Phạm Quỳnh Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Quỳnh Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Thể Thơ: Lục Bát

Dấu hiệu nhận biết:

+ câu 6 tiếng – câu 8 tiếng xen kẽ.

+ có vần điệu nhịp nhàng.

Câu 2.
Những dòng thơ miêu tả thiên nhiên:“Dòng sông lặng ngắt như tờ,”

“Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo.”

“Bốn bề phong cảnh vắng teo,”“Thuyền về, trời đã rạng đông,”

“Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi.”

Câu 3.

Biện pháp tu từ so sánh trong câu “Dòng sông lặng ngắt như tờ”.

Tác dụng:

+ giúp làm nổi bật sự tĩnh lặng tuyệt đối của dòng sông.

+ hình ảnh “thuyền chờ trăng theo” sử dụng nhân hóa khiến cảnh vật trở nên sống động, gợi cảm giác thơ mộng, êm đềm và hòa quyện giữa con người với thiên nhiên.

Câu 4.

Hai câu thơ thể hiện tâm trạng của tác giả: dù đang ở giữa khung cảnh thiên nhiên yên bình, tâm trí vẫn trăn trở, lo nghĩ về vận mệnh đất nước. Nỗi “bàn hoàn” là nỗi băn khoăn, day dứt về việc làm sao khôi phục giang sơn, thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc và trách nhiệm lớn lao đối với dân tộc.

Câu 5.

Bài thơ gửi gắm thông điệp về sự hòa quyện giữa tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước. Dù trong hoàn cảnh nào, con người vẫn cần giữ trong tim trách nhiệm với quê hương, đất nước. Thiên nhiên có thể mang lại sự thư thái, nhưng không làm nguôi đi ý chí và khát vọng cống hiến. Qua đó, mỗi người cần sống có lý tưởng, biết quan tâm đến vận mệnh chung của dân tộc.



Câu 1.

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2.
Một số từ ngữ, hình ảnh thể hiện cuộc sống của Thứ ở Hà Nội:“sống rụt rè hơn”,“sẻn so hơn”,“sống còm rom”,“chỉ còn dám nghĩ đến chuyện để dành, chuyện mua vườn, chuyện làm nhà, chuyện nuôi sống y với vợ con y”

Câu 3.

Biện pháp tu từ: Ẩn dụ trong câu: “Ra khỏi trường, y thấy mình gần như là một phế nhân.”

Tác dụng:

- “Phế nhân” vốn chỉ người mất khả năng lao động, vô dụng, được dùng ẩn dụ để chỉ cảm giác thất bại, bất lực của Thứ trước cuộc đời.

- Cách diễn đạt này nhấn mạnh sự vỡ mộng, hụt hẫng và tự ti sâu sắc của Thứ khi bước ra đời nhưng không thực hiện được những ước mơ lớn lao của mình.

Câu 4.

- Khi ở Sài Gòn: Thứ sống hăm hở, náo nức, đầy hi vọng. Có khát vọng lớn, say mê học hỏi, từng mong chờ cơ hội đi Pháp, thay đổi cuộc đời.

- Khi ở Hà Nội: Trở nên rụt rè, tính toán, sống chật vật. Ước mơ lớn thu nhỏ lại, chỉ còn lo kiếm sống, nuôi gia đình.

Câu 5. Thông điệp có thể rút ra là: Con người cần dũng cảm thay đổi để không sống một cuộc đời “mòn mỏi” và vô nghĩa.