Nguyễn Mạnh Quân
Giới thiệu về bản thân
Em đã từng có dịp tham quan khu di tích lịch sử Văn Miếu Quốc Tử Giám, và chuyến tham quan này đã mang lại cho em rất nhiều kiến thức bổ ích cũng như trải nghiệm đáng nhớ nhất cuộc đời mình.
Khi đặt chân đến Văn Miếu, em phải bất ngờ trước chiếc cổng, nó thật đẹp đẽ, trang nghiêm, dù có phần đã bạc màu đi theo dòng chảy của thời gian. Văn Miếu như một cụ già thông thái, phúc hậu, hiền từ đang mỉm cười nhìn theo chúng em, mời chúng em vào và cảm nhận những trang lịch sử hào hùng, truyền thống hiếu học tốt đẹp của dân tộc ta.
Khi đến đây, không thể không kể đến 82 tấm bia Tiến sĩ nổi tiếng, trên mỗi tấm bia đều khắc tên, tuổi, tiểu sử, khoá thi của các sĩ tử bằng chữ Hán, mỗi tấm bia đều được đặt trên lưng của những chú rùa vô cùng oai nghiêm và trang trọng, rùa chính là một trong tứ vật linh thiêng nhất theo quan niệm của người dân ta lúc bấy giờ.
Khi tham quan xong Văn Miếu, em cảm thấy vô cùng bồi hồi và xúc động khi chứng kiến vẻ đẹp lịch sử, truyền thống hiếu học, coi trọng người tài suốt bao đời nay của ông cha ta. Nếu có ai đó hỏi em rằng, nếu có cơ hội được tham quan một di tích lịch sử, em sẽ lựa chọn nơi nào? Thì lúc đó em sẽ không ngần ngại mà trả lời đó chính là trường Đại học đầu tiên của nước ta – Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/ke-lai-chuyen-di-tham-quan-van-mieu-quoc-tu-giam-lop-8-a164166.html
Dòng thơ “Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng” gợi lên niềm tin và hy vọng về một mùa xuân mới, tượng trưng cho sự khởi đầu tươi sáng và đổi thay trong cuộc sống. Niềm hi vọng chính là nguồn động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi ta có niềm tin vào tương lai tốt đẹp, dù gặp bao gian nan vẫn không dễ dàng bỏ cuộc. Niềm hi vọng giúp tâm hồn ta vững vàng, lạc quan và luôn hướng về phía trước. Chính vì thế, dù cuộc đời có nhiều biến động, ta vẫn cần giữ lấy niềm hi vọng để tìm thấy ý nghĩa và sức mạnh sống. Niềm hi vọng như ngọn đèn soi sáng trong bóng tối, giúp ta không ngừng nỗ lực và tin tưởng vào ngày mai.
Tâm trạng của tác giả trong bài thơ vừa có nét trầm tư, vừa pha chút lo toan và hồi hộp đón chờ mùa xuân. Qua cảnh chợ Đồng cuối năm với mưa bụi, cái rét còn se lạnh, tác giả cảm nhận được không khí tất bật, ồn ào của người dân chuẩn bị Tết, nhưng đồng thời cũng lo lắng cho những nợ nần, khó khăn của cuộc sống. Tuy vậy, trong lòng vẫn ẩn chứa niềm hy vọng và mong đợi khi nghe tiếng pháo báo hiệu mùa xuân sắp đến. Tâm trạng ấy thể hiện sự hòa quyện giữa thực tại khó khăn và khát khao đổi mới, ấm no trong năm mới.
- Ca ngợi tình bạn tri kỉ: Bài thơ thể hiện niềm vui sướng của thi nhân khi có bạn hiền đến thăm sau bao ngày xa cách. Tình bạn này được xây dựng trên sự thấu hiểu, sẻ chia, không vụ lợi, mà cao đẹp và trong sáng.
- Giọng điệu trào phúng, hóm hỉnh: Tác giả tạo ra một tình huống "oái oăm" khi liên tiếp liệt kê các sự thiếu thốn (trẻ đi vắng, chợ xa, không có cá, gà, trầu cau) nhưng lại lồng ghép một cách hài hước và tinh tế. Điều này làm nổi bật tình bạn vốn dĩ không cần đến những thứ vật chất phù phiếm.
- Khẳng định giá trị tình cảm: Câu thơ cuối "Bác đến chơi đây, ta với ta" là lời khẳng định mạnh mẽ về tình tri kỉ, nơi mà chỉ hai tâm hồn đồng điệu "ta" và "ta" cùng tồn tại và cảm thấy hạnh phúc trọn vẹn.
- Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, nhưng được phá cách một cách sáng tạo với lời thơ mộc mạc, bình dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày.
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ trong bài thơ rất gần gũi, dân dã, giàu sức gợi, thấm đẫm hương vị làng quê và rất đỗi tự nhiên. Việc sử dụng âm điệu "a" trong "nhà, xa, cá, gà, hoa, ta" tạo nên sự liền mạch và thanh thoát cho cả bài thơ.
- Nghệ thuật trào phúng: Tác giả sử dụng bút pháp trào phúng hóm hỉnh để nói lên hoàn cảnh thiếu thốn của mình, nhưng thay vì thể hiện nỗi buồn, lại là một cách thể hiện niềm vui, sự tự hào khi có tình bạn quý giá.
- Phép đối: Việc sử dụng phép đối trong các câu thơ như "Ao sâu nước cả, khôn chài cá" và "Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà" làm cho bài thơ sinh động, khắc họa rõ nét tình huống khó xử nhưng đầy hài hước.
"Bên trên là mây, phía dưới là núi, bên trong là những cây xanh tuyệt đẹp, dưới cùng là những dòng suối róc rách. Thiên nhiên thật đẹp.". Đúng vậy, thiên nhiên đẹp nên cần chúng ta đón nhận và giữ gìn. Hãy thử một lần dừng lại cuộc sống xô bồ, gác lại mọi thứ để ngồi cạnh người bạn thiên nhiên ngắm nhìn thế giới, nơi mà bấy lâu nay ta vẫn đứng trên nhưng gần như bỏ quên nó phía sau. Thiên nhiên cung cấp cho con người thực phẩm, phong cảnh trữ tình, những làn gió mát và những cơn mưa phùn lưa thưa. Nó tốt bụng và bao dung như vậy nhưng nhiều người lại không biết tôn trọng và che chở, ngược lại còn gây hại và phá hủy. Chính vì thế nên việc mỗi người chúng ta có ý thức bảo vệ thiên nhiên cũng đồng nghĩa với việc đang bảo vệ chính bản thân mình và ngày càng hòa hợp với thiên nhiên rộng lớn. Chúng ta hãy chung tay bảo vệ và giúp đỡ người bạn thiên nhiên ngày đêm che chở mình nhé!
"Thơ ca bắt nguồn từ những âm vang của tâm hồn." Thật vậy, thơ ca từ xưa đến nay luôn là nơi bộc lộ những trăn trở, những nỗi niềm thầm kín của trái tim người nghệ sĩ trước cuộc sống. Và thơ của Nguyễn Bảo chính là sự bộc lộ chân thành của thi nhân về thế giới xung quanh mình. Đọc thơ ông, người đọc sẽ cảm nhận được những cảm xúc ngập tràn dư âm qua tác phẩm nổi bật "Chiều xuân ở thôn Trừng Mại". Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu không chỉ thể hiện sự tài hoa của nhà thơ mà còn bộc lộ sâu sắc tình yêu quê hương, đất nước, con người trong những năm tháng gian khó.
"Phân phất mưa phùn xâm xẩm bay
Mặc manh áo ngắn giục trâu cày
Nàng dâu sớm đã gieo dưa đó
Bà lão chiều còn xới đậu đây
Mía cạnh giậu tre đang nảy ngọn
Khoai trong đám cỏ đã xanh cây
Điền viên nghĩ thật nguồn vui thú
Dẫu chẳng 'hành môn' đói cũng khuây."
Nguyễn Bảo là một nhà thơ và danh nhân văn hóa Việt Nam nổi tiếng vào thế kỷ XV, người có đóng góp to lớn trong nhiều lĩnh vực, từ văn hóa đến chính trị. Thế nhưng, trong sự nghiệp của ông, thơ ca chính là phần quan trọng nhất, thể hiện rõ ràng nhất những giá trị văn hóa và tinh thần mà ông muốn gửi gắm. Thơ ca của ông rất đa dạng với nhiều chủ đề khác nhau: từ tình yêu thiên nhiên, đất nước, đến các vấn đề xã hội và đời sống nông thôn. Tuy nhiên, điểm chung trong tất cả các tác phẩm của Nguyễn Bảo là một tình yêu vô bờ bến đối với quê hương, con người, đất nước. Thơ của ông giản dị, mộc mạc, nhưng lại đượm đà, sâu sắc và thể hiện lòng yêu thương, sự cảm nhận tinh tế về cuộc sống và con người trong mọi hoàn cảnh.
Bài thơ "Chiều xuân ở thôn Trừng Mại" của Nguyễn Bảo vẽ nên một bức tranh quê hương đẹp như mơ, với những hình ảnh gần gũi và mộc mạc: mưa phùn, trâu cày, gieo dưa, xới đậu, mía nảy ngọn, khoai xanh cây. Tất cả những hình ảnh đó không chỉ mang vẻ đẹp giản dị, chân chất mà còn phản ánh một cuộc sống thanh bình, yêu thương, gắn bó với thiên nhiên và con người. Trong bài thơ này, Nguyễn Bảo đã dùng ngòi bút của mình để tái hiện một buổi chiều xuân miền Bắc, nơi mà đất trời đang vào độ tươi mới, cây cối đang đâm chồi nảy lộc, và con người vẫn tiếp tục với những công việc lao động cần cù của mình.
Ngay từ câu mở đầu, nhà thơ đã khắc họa cảnh sắc mùa xuân miền Bắc với hình ảnh mưa phùn đặc trưng:
“Phân phất mưa phùn xâm xẩm mày.”
Nguyễn Bảo đã sử dụng một cách sáng tạo khi đảo từ “phân phất” lên đầu câu, tạo ra sự nhấn mạnh và cho thấy tính chất mưa phùn kéo dài, nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Mưa phùn là biểu tượng đặc trưng của mùa xuân miền Bắc, không chỉ báo hiệu sự chuyển mùa từ lạnh giá sang ấm áp, mà còn là nguồn sống cho cây cối, giúp đất đai tươi tốt, màu mỡ. Mưa phùn cũng là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca, được gắn liền với sự sinh sôi, nảy nở của thiên nhiên và tạo ra một bức tranh tràn đầy sức sống.
Cùng với hình ảnh mưa phùn, hình ảnh con người trong lao động cũng được nhà thơ khắc họa rất sinh động. Những công việc lao động của người dân được mô tả qua các hình ảnh: “Mặc manh áo ngắn giục trâu cày, Nàng dâu sớm đã gieo dưa đó, Bà lão chiều còn xới đậu đây.”
Hình ảnh "manh áo ngắn" và "trâu cày" không chỉ phản ánh sự nghèo khó, vất vả của người nông dân, mà còn thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa con người và đất đai, giữa lao động và thiên nhiên. Câu thơ thể hiện được sự nhọc nhằn của người nông dân trong công việc đồng áng, nơi mà mỗi ngày là một cuộc đấu tranh với thiên nhiên để có thể sinh tồn và duy trì cuộc sống. Từ hình ảnh nàng dâu gieo dưa, đến bà lão xới đậu, tất cả đều là những công việc lao động thường ngày của người dân thôn quê, nhưng qua lời thơ của Nguyễn Bảo, những công việc ấy trở nên đẹp đẽ và đầy ý nghĩa. Cảnh vật và con người trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp giản dị nhưng cũng hết sức vĩ đại, thể hiện tình yêu thương và lòng trân trọng của nhà thơ đối với những người lao động cần cù.
Tiếp theo, những hình ảnh cây cối đang sinh sôi nảy nở được miêu tả rất tươi mới:
“Mía cạnh giậu tre đang nảy ngọn
Khoai trong đám cỏ đã xanh cây.”
Lắng đọng qua hình ảnh mía nảy ngọn và khoai xanh cây không chỉ là biểu tượng của sự phát triển mạnh mẽ trong mùa xuân, mà còn phản ánh sự sống vươn lên, không ngừng tìm kiếm cơ hội để tồn tại và phát triển. Những mầm cây, nhánh mía đang lớn lên, chính là hình ảnh của cuộc sống luôn có sự đổi mới, luôn tìm ra con đường vươn lên dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất.
Cuối bài thơ, nhà thơ thể hiện tình yêu với cuộc sống nơi làng quê qua câu thơ:
“Điền viên nghĩ thật nguồn vui thú
Dẫu chẳng ‘hành môn’ đói cũng khuây.”
Chính lối sống điền viên – một cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, ruộng vườn – đã trở thành niềm vui lớn nhất của Nguyễn Bảo. Dù trong hoàn cảnh sống khó khăn, thiếu thốn, nhưng người dân vẫn tìm thấy niềm vui trong công việc lao động, trong sự hòa hợp với thiên nhiên và trong những giá trị tinh thần mà cuộc sống mang lại. Câu thơ thể hiện một thông điệp sâu sắc về sự kiên nhẫn và sự hài lòng với cuộc sống giản dị, đồng thời cũng là lời ca ngợi những con người cần cù, chịu thương chịu khó.
Như vậy, bài thơ "Chiều xuân ở thôn Trừng Mại" không chỉ là một bức tranh về làng quê Việt Nam với những hình ảnh giản dị, gần gũi mà còn chứa đựng tình cảm chân thành của nhà thơ Nguyễn Bảo đối với quê hương và con người. Bài thơ là sự kết hợp tuyệt vời giữa thiên nhiên và con người, giữa quá khứ và hiện tại, mang đến cho người đọc một cảm giác bình yên, tĩnh lặng và tràn đầy tình yêu thương.
Bằng sự tài hoa trong ngôn từ, Nguyễn Bảo đã vẽ nên một bức tranh quê hương tươi đẹp, nơi mà thiên nhiên và con người hòa quyện vào nhau, tạo nên một khúc ca tuyệt vời về tình yêu quê hương, về những người lao động thầm lặng. Bài thơ là một minh chứng rõ ràng cho sự sáng tạo của thi nhân và là niềm tự hào của văn học dân tộc.
hoà tan 20g đường vào nước thu được dung dịch đường có nồng độ 10%. tính khối lượng dung dịch đường pha chế được và khối lượng nước cần dùng cho sự pha chế
cô ơi con xong rồi