Nguyễn Kim
Giới thiệu về bản thân
Bài thơ Mẹ để lại trong em nhiều xúc động sâu lắng về tình mẫu tử thiêng liêng. Hình ảnh người mẹ được so sánh với đóa sen “lặng lẽ dưới đầm” khiến em cảm nhận được vẻ đẹp giản dị, thanh cao và âm thầm hi sinh của mẹ. Dù nghèo khó, mẹ vẫn dành trọn “hương đời” để ướp cho con, nuôi con khôn lớn bằng cả tình yêu và những tháng năm vất vả. Đọc đến những câu thơ nói về sự chia xa, em không khỏi nghẹn ngào khi mẹ đã “lìa xa cõi đời”, chỉ còn lại hình bóng như ngôi sao trên trời dõi theo con. Bài thơ gợi cho em lòng biết ơn sâu sắc và nhắc nhở em phải trân trọng, yêu thương mẹ khi còn có thể.
Trong nền văn học Việt Nam hiện thực trước Cách mạng, “Lão Hạc” là một truyện ngắn tiêu biểu thể hiện sâu sắc số phận người nông dân nghèo. Qua nhân vật lão Hạc, nhà văn Nam Cao đã bộc lộ niềm cảm thương chân thành và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp ẩn sau cuộc đời cơ cực.
Trước hết, lão Hạc hiện lên là một người nông dân nghèo khổ, cô đơn và bất hạnh. Vợ mất sớm, con trai vì không có tiền cưới vợ mà bỏ đi làm đồn điền cao su, lão sống thui thủi một mình với con chó Vàng làm bạn. Cuộc sống túng quẫn, bệnh tật khiến lão phải bán đi con chó – kỉ vật của con trai. Chi tiết lão kể chuyện bán chó trong đau đớn, ân hận cho thấy lão là người giàu tình cảm, sống nghĩa tình. Sự dằn vặt ấy không chỉ vì mất một con vật nuôi mà còn vì lão cảm thấy như mình đã phụ lòng con.
Không chỉ giàu tình thương, lão Hạc còn là người có lòng tự trọng cao. Dù nghèo đói, lão nhất quyết không tiêu vào mảnh vườn dành cho con. Lão gửi tiền và nhờ ông giáo lo hậu sự để khỏi phiền lụy hàng xóm. Đặc biệt, cái chết dữ dội của lão là minh chứng cho lòng tự trọng và tình yêu thương con sâu sắc: lão chọn cái chết để bảo toàn tài sản cho con trai. Qua đó, Nam Cao tố cáo xã hội phong kiến tàn nhẫn đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng.
Bên cạnh nhân vật lão Hạc, ông giáo – người kể chuyện – đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác phẩm. Qua cái nhìn cảm thông của ông giáo, người đọc càng thấu hiểu và trân trọng nhân cách cao đẹp của lão Hạc. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực đau xót mà còn khẳng định: trong bất cứ hoàn cảnh nào, người nông dân vẫn giữ được phẩm chất lương thiện, giàu lòng tự trọng.
Tóm lại, “Lão Hạc” là một truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Qua số phận lão Hạc, Nam Cao đã thể hiện cái nhìn đầy yêu thương, trân trọng đối với người nông dân nghèo. Tác phẩm để lại trong lòng người đọc niềm xúc động sâu sắc và sự suy ngẫm về giá trị của lòng nhân ái và phẩm giá con người.
Bài thơ Khi mùa mưa đến khơi gợi trong em cảm nhận về một cảm hứng tươi vui, tha thiết và tràn đầy hi vọng của nhà thơ trước mùa mưa quê hương. Mưa không chỉ làm cho “làng ta tươi tốt một triền đê” mà còn khiến “lòng trẻ lại”, đánh thức những rung động hồn nhiên, trong trẻo. Qua những hình ảnh giàu sức gợi như hương đất bãi, bãi bờ nhân hậu, nhà thơ bộc lộ tình yêu sâu nặng với quê hương và niềm tin vào sự sinh sôi, no đủ. Đặc biệt, ước nguyện “ta hoá phù sa mỗi bến chờ” cho thấy khát vọng được dâng hiến, được góp phần bồi đắp cho quê hương ngày càng tươi đẹp. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ vì thế là niềm vui, niềm tin và tình yêu quê hương tha thiết.
Câu thơ thể hiện tình yêu quê hương tha thiết và ước mong được cống hiến, hy sinh thầm lặng như phù sa bồi đắp cho đời.
Trong kho tàng văn học Việt Nam, thơ trào phúng của Trần Tế Xương luôn giữ một vị trí đặc biệt bởi tiếng cười sắc sảo, sâu cay mà vẫn thấm đẫm tình đời. Trong số những tác phẩm ấy, bài “Vịnh khoa thi Hương” tiêu biểu hơn cả, phản ánh sinh động hiện thực xã hội thời Pháp thuộc với những đảo lộn, suy đồi của nền khoa cử phong kiến.
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh đông đúc của trường thi:
“Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.”
Lẽ ra trường thi phải là nơi nghiêm cẩn của bậc nho sĩ, nhưng dưới ngòi bút Tú Xương lại trở nên hỗn tạp, đảo lộn. Việc “lẫn” giữa các trường cho thấy sự cẩu thả, thiếu quy củ của chính quyền thực dân – phong kiến, đồng thời hé mở một tình trạng bát nháo của khoa cử cuối mùa.
Hai câu tiếp theo vạch rõ nguyên nhân dẫn đến sự hỗn tạp ấy:
“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.”
Nhà thơ cười chua chát cả hai lớp người: sĩ tử thì nghèo nàn, nhếch nhác; quan trường thì hách dịch, kệch cỡm. Tiếng cười bật ra mà chứa đầy nỗi xót xa trước cảnh suy đồi của một truyền thống từng là niềm tự hào dân tộc.
Đỉnh điểm chất trào phúng nằm ở hai câu kết:
“Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.”
Giọng thơ bỗng trở nên nghiêm trang. Sau tiếng cười là lời cảnh tỉnh thấm thía: đất nước đang trong cảnh biến loạn, nhân tài bị chôn vùi giữa một nền khoa cử mục nát. Tiếng cười của Tú Xương không đơn thuần để giễu nhại mà để khơi dậy nỗi đau, thức tỉnh trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh dân tộc.
Bằng bút pháp trào phúng sắc bén, ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh, Tú Xương đã phác họa chân thực bức tranh khoa cử thối nát cuối thế kỉ XIX. Bài thơ vừa khiến ta bật cười, vừa khiến ta suy ngẫm. Chính vì vậy, “Vịnh khoa thi Hương” là một trong những tác phẩm trào phúng xuất sắc nhất, thể hiện rõ tài năng và tâm huyết của nhà thơ dành cho đất nước.
Tiếng cười không chỉ đem lại niềm vui mà còn có sức mạnh như một thứ vũ khí chống lại những điều chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống. Khi ta cười trước thói hư, tật xấu, tiếng cười ấy trở thành lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, khiến con người phải tự soi xét và thay đổi. Nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là truyện cười dân gian, đã dùng tiếng cười để phê phán thói tham lam, ngu dốt hay giả dối. Nhờ tiếng cười, những sai lầm dễ được chỉ ra hơn mà không gây tổn thương. Vì vậy, tiếng cười không chỉ mang tính giải trí mà còn góp phần làm xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
Tiếng cười không chỉ đem lại niềm vui mà còn có sức mạnh như một thứ vũ khí chống lại những điều chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống. Khi ta cười trước thói hư, tật xấu, tiếng cười ấy trở thành lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, khiến con người phải tự soi xét và thay đổi. Nhiều tác phẩm văn học, đặc biệt là truyện cười dân gian, đã dùng tiếng cười để phê phán thói tham lam, ngu dốt hay giả dối. Nhờ tiếng cười, những sai lầm dễ được chỉ ra hơn mà không gây tổn thương. Vì vậy, tiếng cười không chỉ mang tính giải trí mà còn góp phần làm xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 1.
Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2.
Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu là:
→ Cây hoè xanh, hoa lựu đỏ, hoa sen hồng tỏa hương.
Câu 3.
Biện pháp tu từ đảo ngữ trong câu:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”
Tác dụng:
Làm nổi bật âm thanh sôi động, rộn ràng của cuộc sống con người và thiên nhiên; thể hiện niềm vui, sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên ngày hè.
Câu 4.
Trong hai dòng thơ cuối, tác giả bộc lộ tấm lòng yêu nước, thương dân và ước vọng nhân dân được no đủ, hạnh phúc như thời Nghiêu, Thuấn.
Câu 5
Chủ đề:
Bài thơ thể hiện niềm say mê, yêu đời, yêu thiên nhiên và tấm lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi.
Căn cứ: Từ các hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, tiếng chợ cá rộn ràng đến ước nguyện “Dân giàu đủ khắp đòi phương”, tất cả đều toát lên tinh thần nhân đạo và lòng yêu nước của tác giả.
Câu 6
Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong cảnh ngày hè, em hiểu rằng niềm hạnh phúc thật sự không nằm ở vật chất xa hoa mà ở tâm hồn biết trân trọng những điều bình dị quanh mình. Khi ta biết dừng lại để ngắm nhìn hoa lá, lắng nghe âm thanh cuộc sống, ta sẽ cảm nhận được sự bình yên và yêu đời hơn. Em học được cách giữ tinh thần lạc quan, sống chan hòa với thiên nhiên và biết ơn cuộc sống mỗi ngày
Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, lớp em đã có chuyến tham quan về nguồn tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng. Sáng hôm ấy, ai cũng háo hức chuẩn bị cờ, hoa và áo đồng phục. Khi đến nơi, chúng em được nghe thầy cô kể về các Vua Hùng đã có công dựng nước, được dâng hương tưởng niệm và chụp nhiều tấm hình lưu niệm. Em cảm nhận được không khí trang nghiêm, linh thiêng và tự hào về truyền thống dân tộc. Trên đường về, cả lớp cùng hát vang những bài ca về quê hương đất nước. Chuyến đi ấy đã giúp em hiểu hơn về cội nguồn dân tộc và càng thêm yêu mái trường, thầy cô, bạn bè của mình.