Trịnh Huy Lâm
Giới thiệu về bản thân
Đất phù sa là tài nguyên quý giá, đóng vai trò nền tảng cho nông nghiệp (thâm canh lúa, hoa màu, cây ăn quả) và nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam.
Tuy nhiên, hiện nay đất đang bị thoái hóa nghiêm trọng (bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn) do xói mòn, lạm dụng hóa chất và biến đổi khí hậu, cần các biện pháp cải tạo bền vững.
Trong lần về Hà Nội thăm ông bà gần đây nhất, em đã có dịp được đến thăm quan Văn Miếu Quốc Tử Giám, một trong những công trình kiến trúc thể hiện sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam ta từ những thế kỷ XXI. Nơi đây cũng là một trong những địa điểm vô cùng thu hút khách du lịch của Hà Nội.
Hôm ấy là thứ bảy, mùa thu ở Hà Nội rất dịu dàng và mát mẻ, cả gia đình em thuê một chiếc ô tô, để đi đến Quốc Tử Giám, sau khi mất khoảng 40 mươi phút ngồi xe thì cuối cùng em cũng được chiêm ngưỡng cái vẻ cổ kính, uy nghiêm của ngôi trường có niên đại sớm nhất Việt Nam này. Cả nhà em ai nấy cũng vô cùng hào hứng và vui vẻ, xuống xe và đi bộ dần vào bên trong, vừa đi vừa nói chuyện rộn ràng. Thứ đầu tiên khiến em ấn tượng về khu Văn Miếu chính là phần tường gạch vồ bao quanh toàn bộ diện tích rộng lớn. Khu Văn Miếu bao gồm có 4 cửa, ngăn cách khu vực ra làm 5 tầng không gian khác nhau, chúng em theo sự hướng dẫn, tiến vào từ cửa chính ở phía Nam, quang cảnh đầu tiên chúng em nhìn thấy đó chính là một hồ nước trong xanh, phẳng lặng, cây cối bên bờ xum xuê, rủ bóng dưới mặt hồ, tạo cảm giác vô cùng thư thái mát mẻ, hỏi ra thì mới biết đây gọi là hồ Văn hay còn gọi là hồ Mình Đường, hồ Giám. Bước qua khu vực hồ thì chính là cổng Văn Miếu, với với cửa hình vòm rộng lớn, phía trước có 4 trụ lớn và hai tấm bia Hạ mã. Cổng này vốn được xây bằng gạch, quét sơn trắng nhưng có lẽ do thời gian mài mòn nên phần tường gần mái đã phủ đầy rêu phong, mái gạch vốn đỏ giờ cũng ngả màu, khiến nó mang một vẻ cổ kính, lâu đời. Tiến vào bên trong chính là vườn Giám rộng lớn cây cối rợp bóng, xanh tươi và khu Văn Miếu mang đậm vẻ thâm nghiêm tĩnh mịch. Xuyên qua hết khu này là đến cổng thứ hai mang tên Đại Trung Môn, dẫn thẳng đến Khuê Văn Các, một công trình kiến trúc khá độc đáo. Với hình ảnh ngôi lầu tám mái, bốn cửa tròn, được sơn màu đỏ, lấy bốn trụ gạch vuông làm đế, được ví là nơi giao hòa hội tụ linh khí đất trời. Em phát hiện ra rằng hình ảnh của Khuê Văn Các chính là những hình chìm được in trên các tờ tiền polymer mà chúng ta hằng ngày không bao giờ để ý. Vượt qua Khuê Văn Các ta chính thức tiến vào nơi có dựng bia tiến sĩ, trong đó em khá ấn tượng với một chiếc giếng lớn hình vuông nằm ở giữa, được gọi là giếng Thiên Quang hay còn gọi là Ao Văn. Hai bên giếng là các bia Tiến sĩ lớn bằng đá xanh, mỗi tấm bia như vậy được dựng trên lưng một con rùa bằng đá, quay mặt vào giếng. Em đếm cả thảy có 82 chiếc bia đá lớn, mà để bảo vệ cho chúng khỏi mưa nắng, người ta còn dựng lên hai tòa đình vuông, với trụ được làm bằng gỗ, mái bằng ngói đỏ, còn gọi là đình thờ bia. Nghe nói rằng đến Văn Miếu sờ đầu rùa, học hành sẽ tinh thông hơn, thế nên em đã đi một vòng sờ em hơn 10 cái đầu rùa, cốt chỉ mong năm em học hành tiến bộ hơn. Bố em thấy thế chỉ biết phì cười vì sự ngây thơ của đứa con là em.
Kết thúc chuyến thăm, cả gia đình em còn tham quan nhiều địa điểm khác nữa, nhưng có lẽ Văn Miếu - Quốc Tử Giám, với hình ảnh Khuê Văn Các, bia Tiến Sĩ, đầu rùa là để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc hơn cả. em mơ tưởng về một thời xa xưa nơi đây đã đến và đi biết bao nhiêu sĩ tử, đã vinh danh biết bao nhiêu tiến sĩ mà lòng bồi hồi không thôi.
Niềm hy vọng là nguồn động lực vô giá giúp con người vượt qua khó khăn, bởi nó mang lại niềm tin vào tương lai tươi sáng và sức mạnh để không ngừng nỗ lực. Giống như tiếng pháo trúc báo hiệu mùa xuân, hy vọng soi sáng trong bóng tối, giúp ta vững vàng và lạc quan trước nghịch cảnh, giữ cho cuộc sống không bao giờ mất đi ý nghĩa và sức mạnh để tiếp tục tiến về phía trước.
sự trầm lắng, man mác buồn, cô đơn xen lẫn chút lạc quan, chờ đón mùa xuân
Trong cuộc sống, mỗi người đều có những trải nghiệm đáng quý. Điều đó giúp chúng ta nhận ra nhiều bài học bổ ích cho chính mình. Và bản thân tôi cũng có được trải nghiệm như vậy.
Tôi đã thi đỗ vào một trường cấp 2 chuyên của huyện. Điều đó khiến mọi người trong gia đình rất tự hào. Tôi cũng cảm thấy vô cùng sung sướng khi nhận được những lời khen ngợi. Nhưng cũng chính vì vậy mà khi vào năm học tôi trở nên chủ quan, chểnh mảng trong việc học tập.
Trong lớp học mới, tôi quen được rất nhiều người bạn. Chúng tôi thường xuyên bày trò nghịch ngợm. Tất cả đều cho rằng mình cần được nghỉ ngơi sau những tháng ngày ôn thi vất vả và năm học đầu cấp kiến thức rất nhẹ nhàng. Tôi cũng cho rằng bản thân mình thông minh, đến cuối kì thi chỉ cần xem lại bài là có thể nắm được kiến thức. Một lần nọ, tôi đã bỏ học theo nhóm bạn đi chơi. Hôm đó, chúng tôi có tiết học của cô giáo chủ nhiệm. Chúng tôi đã đồng loạt viết giấy phép, ngụy tạo cả chữ ký phụ huynh để lên bàn cô rồi rủ nhau đi ra suối chơi. Nhưng cô giáo đã phát hiện ra. Cô nói rằng sẽ gọi điện trao đổi với phụ huynh.
Ngày hôm đó, tôi ngồi trong lớp học mà lòng đầy lo lắng. Tôi bắt đầu cảm thấy ân hận về hành động của mình. Những lời cô giáo nói với chúng tôi khiến tôi vẫn còn nhớ như in. Đến chiều về nhà, khi thấy tôi, mẹ không quát mắng mà chỉ hỏi han tôi. Điều đó khiến tôi rất ngạc nhiên. Sau bữa cơm tối, tôi lên phòng ngồi học bài. Bỗng nhiên, tôi nghe thấy tiếng gõ cửa. Mẹ bước vào, trò chuyện với tôi. Mẹ nói rằng đã nhận được cuộc gọi từ cô giáo chủ nhiệm của tôi. Tôi lo lắng chờ nghe lời trách mắng. Nhưng mẹ lại nhẹ nhàng nói với tôi: “Mỗi đứa trẻ đều từng mắc phải sai lầm. Khi bằng tuổi con, mẹ cũng rất nghịch ngợm, khiến bà ngoại phải phiền lòng. Nhưng nhờ có sự bao dung của bà mà mẹ đã thay đổi...”.
Khi nghe mẹ nói xong, tôi cảm thấy vô cùng hối hận. Tôi nhận ra lỗi lầm của mình. Trải nghiệm đáng nhớ đối với tôi nhưng đã đem đến một bài học đáng giá. Kể từ đó, tôi cố gắng học tập chăm chỉ hơn.
Câu 1. Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên nào được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ được dùng trong câu thơ sau?
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc gì?
Câu 5. Chủ đề của bài thơ là gì? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?
Câu 6. Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em rút ra được bài học gì cho bản thân trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình? Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) trả lời cho câu hỏi trên.