Trần Chí Hưng
Giới thiệu về bản thân
a. Giá trị của đất phù sa đối với nông nghiệp và thủy sản
- Đất phù sa rất màu mỡ, giàu dinh dưỡng, thích hợp trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả.
- Là vùng trọng điểm sản xuất lương thực (đặc biệt ở đồng bằng).
- Thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản (ao, hồ, vùng nước ngọt, nước lợ).
→ Có vai trò cực kì quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản.
b. Hiện trạng và nguyên nhân thoái hóa đất ở nước ta:
Hiện trạng:
- Nhiều nơi bị xói mòn, rửa trôi (đồi núi).
- Bạc màu, mất dinh dưỡng.
- Nhiễm mặn, nhiễm phèn (đồng bằng, ven biển).
- Ô nhiễm đất do hóa chất.
Nguyên nhân:
- Tự nhiên: mưa lớn, địa hình dốc, lũ lụt.
- Con người:
- Phá rừng, canh tác không hợp lý.
- Lạm dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu.
- Khai thác đất quá mức, không cải tạo.
Câu 2. Chủ thể trữ tình trong bài thơ là người mẹ.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ nhân hoá: "Cỏ" được nhân hoá qua các hành động "thơm thảo", "toả hương", "rì rào", "hát".
- Tác dụng: Làm cho hình ảnh "cỏ" (đứa con) trở nên sinh động, gần gũi và có hồn. Nó nhấn mạnh sự hồn nhiên, vui tươi, và tâm hồn trong sáng của con khi khôn lớn, đồng thời thể hiện niềm vui, tự hào của người mẹ khi thấy con trưởng thành và tỏa sáng, mang hương thơm cho đời.
Câu 4. Hai câu thơ cho thấy người mẹ mong ước con:
Được phát triển một cách tự nhiên, hồn nhiên, không chịu áp lực nặng nề ("cứ hồn nhiên mà lớn").- Trở thành người có ích, mang lại sức sống, vẻ đẹp và sự tươi mới ("phủ xanh non") cho quê hương, gia đình ("đất mẹ hiền hoà").
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”
Nguyễn Khuyến đã chọn những chi tiết rất tiêu biểu cho mùa thu xứ Bắc (ao thu, gió thu, trời thu). Ao thu là thứ ao rất riêng chỉ mùa thu mới xuất hiện. Nguyễn Khuyến đã ghi nhận được hai đặc trưng của ao thu là lạnh lẽo và trong veo – ao lạnh nước yên, trong đến tận đáy. Ao là nét thường gặp trong thơ Nguyễn Khuyến, nói đến ao là gợi đến một cái gì rất gần gũi, thân quen, tâm hồn Nguyễn Khuyến là thế: thân mật, bình dị, chân thành với hồn quê. Trời thu trong xanh cũng là hình quen thuộc trong thơ Nguyễn Khuyến. Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những án mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà lơ lửng. Xanh ngắt trong thơ Nguyễn Khuyến là xanh trong, tinh khiết đến tuyệt đối, không hề pha lẫn, không hề gợn tạp. Đường nét chuyển động nhẹ nhàng, mảnh mai, tinh tế: hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, mây lơ lửng, đường bao thanh mảnh của rặng trúc, đường gợn của lượn sóng ao thu. Cảnh vật toát lên sự hài hòa, xứng hợp: Ao nhỏ – thuyền bé; gió nhẹ – sóng gợn; trời xanh – nước trong; khách vắng teo – chủ thể trầm ngâm tĩnh lặng.