Nguyễn Hạnh Nguyên
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Trong thời đại 4.0, sáng tạo là chìa khóa giúp người trẻ khẳng định bản thân. Sáng tạo không phải điều gì xa vời, mà là dám nghĩ khác, làm khác để giải quyết vấn đề tốt hơn. Với học sinh, sáng tạo giúp biến kiến thức sách vở thành dự án, mô hình có ích. Với xã hội, người trẻ sáng tạo sẽ tạo ra sản phẩm mới, khởi nghiệp, đưa đất nước bắt kịp thế giới. Thiếu sáng tạo, con người dễ rập khuôn, lạc hậu và bị thay thế bởi máy móc. Như Steve Jobs từng nói: "Sáng tạo chỉ là kết nối mọi thứ lại với nhau". Vì vậy, thế hệ trẻ cần rèn luyện tư duy phản biện, tò mò, không ngại thất bại. Bởi mỗi ý tưởng sáng tạo hôm nay có thể là bước ngoặt thay đổi tương lai ngày mai.
Câu 2:
Nếu phải tìm một nhà văn hiểu và viết về miền Tây sâu sắc nhất, nhiều người sẽ nhắc đến Nguyễn Ngọc Tư. Văn của Tư buồn như một con nước ròng, thấm đẫm vị mặn mòi của đất, của người Nam Bộ. Trong truyện ngắn Biển người mênh mông, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, nhà văn đã khắc họa chân thực và xúc động vẻ đẹp tâm hồn của con người vùng sông nước: nghèo khó nhưng giàu tình nghĩa, côi cút nhưng chưa từng thôi khao khát một mái ấm.
Trước hết, Phi là hình ảnh tiêu biểu cho những đứa trẻ Nam Bộ sớm chịu cảnh mồ côi, thiếu vắng tình thân. Phi "sinh ra đã không có ba", năm tuổi rưỡi thì "má Phi cũng theo chồng ra chợ sống", tuổi thơ chỉ còn bà ngoại làm điểm tựa. Đến khi "ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất", cậu trai ba mươi ba tuổi "còn một mình", trở nên "lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi". Cái "lôi thôi" ấy không phải do lười biếng, mà là sự buông xuôi của một kẻ không còn ai để chỉnh tề cùng. Dù vậy, Phi vẫn mang trong mình sự hiền lành, nhẫn nhịn rất Nam Bộ. Khi bị ngoại cằn nhằn "tóc tai gì mà xấp xải, hệt du côn", Phi "không cãi nữa, cầm mấy ngàn chạy đi, lát sau đem cái đầu tóc mới về". Lớn lên, cậu "vừa học vừa tìm việc làm thêm", tự bươn chải giữa dòng đời. Phi chính là lớp người trẻ Nam Bộ: lam lũ, cô đơn nhưng chưa bao giờ đánh mất sự tử tế và nghị lực sống.
Đối lập với sự im lìm của Phi là ông Sáu Đèo, một ông già gần đất xa trời nhưng nặng trĩu nghĩa tình. Ông xuất hiện với gia tài "gói gọn bốn cái thùng các tông" và một con bìm bịp trong lồng trùm vải xanh. Cuộc đời ông là một bi kịch của người nghèo: "hồi trẻ, ông toàn sống trên sông", "vợ chồng lang thang xứ này xứ nọ". Vì một lần say rượu, "qua có hơi nặng lời" mà vợ bỏ đi. Để rồi suốt gần bốn mươi năm, ông "tìm gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, lội gần rã cặp giò rồi mà chưa thấy". Câu nói "Kiếm để làm gì hả? Để xin lỗi chớ làm gì bây giờ" đã lột tả hết tấm chân tình của người đàn ông Nam Bộ. Ông Sáu thô ráp, cục mịch nhưng thủy chung, ân hận và sống có trước có sau. Trước khi đi, ông bày rượu từ giã Phi và gửi gắm "con quỷ sứ" bìm bịp: "Qua tin tưởng chú em nhiều, đừng phụ lòng qua nghen". Cái tin tưởng ấy thiêng liêng như gửi gắm một phần đời mình.
Từ Phi và ông Sáu Đèo, những nét tính cách đặc trưng của con người Nam Bộ hiện lên thật rõ. Đó là sự chân chất, bộc trực thể hiện qua lời ăn tiếng nói: xưng "qua", gọi "bây", "cổ", "tía". Đó là cái tình mênh mông như biển: người dưng mà thương nhau như ruột thịt. Ông Sáu nghèo, Phi cũng chẳng khá hơn, vậy mà họ nương tựa nhau. Ông nhắc Phi cắt tóc, Phi nhận nuôi bìm bịp thay ông. Giữa biển người mênh mông, họ neo vào nhau để bớt chông chênh. Và đó còn là nghị lực sống phi thường. Dù bị cuộc đời xô đẩy, Phi vẫn không hư hỏng. Dù gần đất xa trời, ông Sáu vẫn "chỗ nào chưa đi thì đi, còn sống thì còn tìm".
Nguyễn Ngọc Tư không tô hồng hiện thực. Bà viết về cái nghèo, cái khổ, sự chia ly của người Nam Bộ. Nhưng chính trong cái nền ròng của số phận, tình người lại lấp lánh như phù sa. Đọc Biển người mênh mông, ta thương Phi, thương ông Sáu Đèo, và thương cả một vùng đất. Bởi con người nơi đây, dù "bầy hầy, lượm thuộm" vẻ ngoài, thì bên trong vẫn luôn là một tấm lòng son, một chữ tình nặng hơn sông dài biển rộng. Đó chính là "dấu ấn Nam Bộ" không thể trộn lẫn mà Nguyễn Ngọc Tư đã giữ lại cho văn chương.
Câu 1.
-Kiểu văn bản của đoạn thông tin trên: Văn bản thông tin
Câu 2.
"Cây bẹo": Người bán cắm cây sào tre dài trên ghe, treo hàng hóa lên cao để khách nhìn từ xa.
"Bẹo" bằng âm thanh: Dùng kèn bấm tay, kèn đạp chân để thu hút khách.
Lời rao: "Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...?" lảnh lót, thiết tha.
"Bẹo" ghe: Treo tấm lá lợp nhà lên cây bẹo để báo hiệu bán chính chiếc ghe đó.
Câu 3 :
-Tạo tính xác thực: Liệt kê chợ nổi Cái Bè, Cái Răng, Ngã Bảy, Ngã Năm... giúp người đọc tin vào sự tồn tại, đa dạng của chợ nổi.
-Làm nổi bật đặc trưng vùng miền: Các địa danh gắn với Tiền Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau cho thấy chợ nổi là nét văn hóa đặc thù của cả vùng sông nước Tây Nam Bộ.
-Tăng tính gợi hình: Giúp người đọc hình dung được sự sầm uất, trải dài của chợ nổi khắp miền Tây.
Câu 4.
Phương tiện phi ngôn ngữ là "cây bẹo" và âm thanh từ kèn.
Tác dụng:
-Thay thế lời nói trong không gian sông nước rộng: Ghe xuồng ở xa nhau, khách khó nghe lời rao nên "cây bẹo" giúp nhìn thấy mặt hàng từ xa.
-Tạo nét văn hóa độc đáo: Cách "bẹo" hàng bằng hình ảnh, âm thanh vừa giản tiện vừa thú vị, thể hiện sự sáng tạo của người dân miền Tây.
-Tăng hiệu quả giao thương: Giúp người mua dễ tìm đúng thứ cần mua giữa hàng trăm ghe thuyền.
Câu 5.
Chợ nổi không chỉ là nơi giao thương mà còn là linh hồn của văn hóa sông nước miền Tây:
Về kinh tế: Là nơi trao đổi nông sản, hàng hóa chủ yếu của vùng. Người dân "lớn như cái xuồng, nhỏ như cây kim" đều có thể mua bán, giúp lưu thông hàng hóa nhanh.
Về văn hóa: Lưu giữ lối sống "trên sông", cách rao hàng bằng "cây bẹo", tiếng kèn, lời rao mộc mạc... tạo nên bản sắc riêng không nơi nào có.
Về tinh thần: Là nơi gặp gỡ, giao lưu tình cảm. Sự len lỏi khéo léo của ghe xuồng "hiếm khi có va quệt" cho thấy sự thân tình, gắn bó của người miền Tây.
Đoạn thơ đã khắc họa một bức tranh mùa thu Hà Nội mang vẻ đẹp vừa tinh tế, vừa giàu cảm xúc. Trước hết, mùa thu hiện lên qua những tín hiệu đặc trưng: “gió heo may”, “lá vàng khô”, “chiều nhạt nắng”. Những hình ảnh quen thuộc ấy gợi nên cái se lạnh rất riêng của thu Hà Nội, nhẹ nhàng mà sâu lắng. Âm thanh “xào xạc” của lá rơi không chỉ tái hiện không gian mà còn khơi gợi cảm giác cô tịch, man mác buồn. Trong không gian ấy, con người hiện lên với tâm trạng “lặng lẽ một mình”, chìm trong nỗi nhớ “người xa”, khiến cảnh thu càng thêm đượm màu tâm trạng. Đặc biệt, hình ảnh “hàng sấu” và “quả sót” mang đậm dấu ấn Hà Nội, vừa gần gũi vừa gợi hoài niệm. Câu thơ “Ta nhặt được cả chùm nắng hạ” là một liên tưởng độc đáo, thể hiện sự giao thoa giữa các mùa, làm cho bức tranh thu không chỉ có sắc vàng của hiện tại mà còn ánh lên dư vị ấm áp của mùa hạ đã qua. Qua đó, mùa thu Hà Nội hiện ra không chỉ đẹp ở cảnh sắc mà còn đẹp ở chiều sâu cảm xúc, gợi nhớ, gợi thương.
Câu 2 :
Trong thời đại công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển với tốc độ vượt bậc, trở thành một trong những yếu tố quan trọng định hình tương lai của nhân loại. Sự phát triển như vũ bão của AI vừa mở ra nhiều cơ hội to lớn, vừa đặt ra không ít thách thức cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc.
Trước hết, AI mang lại những lợi ích to lớn cho đời sống con người. Trong lĩnh vực y tế, AI giúp chẩn đoán bệnh nhanh chóng, chính xác hơn, hỗ trợ bác sĩ trong việc điều trị và cứu sống nhiều bệnh nhân. Trong giáo dục, AI tạo ra các phương pháp học tập cá nhân hóa, giúp học sinh tiếp cận tri thức hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, AI còn được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao năng suất lao động và tối ưu hóa chi phí. Những công nghệ như xe tự lái, trợ lý ảo, hay hệ thống phân tích dữ liệu lớn đang từng bước làm thay đổi cách con người sống và làm việc. Có thể nói, AI đang giúp thế giới trở nên tiện nghi, hiện đại và thông minh hơn.
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của AI cũng đặt ra nhiều vấn đề đáng lo ngại. Một trong những thách thức lớn nhất là nguy cơ mất việc làm khi máy móc dần thay thế con người trong nhiều lĩnh vực. Ngoài ra, việc lạm dụng AI có thể dẫn đến sự phụ thuộc quá mức, làm giảm khả năng tư duy và sáng tạo của con người. Các vấn đề về đạo đức và an toàn thông tin cũng trở nên cấp thiết, khi AI có thể bị sử dụng vào mục đích xấu như tạo tin giả, xâm phạm quyền riêng tư hoặc thao túng dư luận. Nếu không được kiểm soát, AI có thể gây ra những hậu quả khó lường đối với xã hội.
Trước thực tế đó, con người cần có thái độ đúng đắn trước sự phát triển của AI. Thay vì lo sợ hay chống lại, chúng ta nên chủ động thích nghi, học hỏi và tận dụng AI như một công cụ hỗ trợ. Đồng thời, cần xây dựng các quy định pháp lý và chuẩn mực đạo đức để kiểm soát việc sử dụng AI một cách an toàn và có trách nhiệm. Giáo dục cũng cần đổi mới để trang bị cho thế hệ trẻ những kỹ năng phù hợp với thời đại công nghệ, đặc biệt là tư duy sáng tạo và khả năng làm việc cùng AI.
Tóm lại, sự phát triển như vũ bão của trí tuệ nhân tạo là xu thế tất yếu của thời đại. AI không phải là mối đe dọa nếu con người biết cách kiểm soát và sử dụng nó một cách hợp lý. Quan trọng hơn cả, con người vẫn cần giữ vai trò trung tâm, sử dụng trí tuệ nhân tạo như một phương tiện để phục vụ cho sự tiến bộ và hạnh phúc của chính mình.
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Câu 2.
Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện năm khốn khó:
* “đồng sau lụt”, “bờ đê sụt lở”
* “mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn”
* “anh em con chịu đói suốt ngày tròn”
* “ngồi co ro bậu cửa”
* “có gì nấu đâu mà nhóm lửa”
→ Gợi lên cảnh nghèo đói, thiên tai, cuộc sống vất vả, thiếu thốn.
Câu 3.
* Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (“vuông đất mẹ nằm”).
* Tác dụng:
* Chỉ nơi mẹ yên nghỉ (phần mộ).
* Thể hiện nỗi đau, sự mất mát và nỗi nhớ thương da diết của người con dành cho mẹ đã khuất.
Câu 4.
“Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn” gợi hình ảnh người mẹ lam lũ, vất vả, phải làm việc đến tận chiều tối. Từ “xộc xệch” cho thấy sự nhọc nhằn, thiếu thốn; “hoàng hôn” nhấn mạnh thời gian muộn màng, gợi nỗi buồn và sự tàn tạ của cuộc đời cơ cực.
Câu 5.
Thông điệp: Hãy trân trọng và yêu thương mẹ khi còn có thể.
Lí do:
Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ thương và ân hận của người con khi mẹ đã mất. Những ký ức về sự hi sinh, vất vả của mẹ khiến ta nhận ra rằng tình mẫu tử vô cùng thiêng liêng, nhưng khi mất đi thì không gì có thể bù đắp. Vì vậy, cần biết yêu thương, quan tâm mẹ ngay trong hiện tại.
I. Mở bài
-Giới thiệu, dẫn dắt vấn đề : Trong xã hội hiện nay, còn nhiều người chưa ý thức được tầm quan trọng của việc tự lập trong cuộc sống, họ luôn ỷ lại vào người khác. Và dần dần hình thành nên thói quan dựa dẫm - một thói quen xấu cần được từ bỏ.
-Khẳng định vấn đề : Từ bỏ thới quen dựa dẫm là điều cần thiết để bản thân mỗi người có thể thành công.
II. Thân bài
1. Luận điểm 1 : Biểu hiện của thói dựa dẫm
-Khái niệm : Dựa dẫm là gì? Thói dựa dẫm là sống ỷ lại vào người khác, không chủ động trong công việc của bản thân và không có trách nhiệm với bản thân mình. Từ bỏ thói quen dựa dẫm là biết cách sống tự lập, tự quyết định và chịu trách nhiệm với cuộc sống của chính mình.
-Biểu hiện của thói dựa dẫm :
=>Trông chờ vào cha mẹ, thầy cô, bạn bè.
=>Ngại suy nghĩ, ngại hành động, sợ phải đối mặt với khó khắn, thử thách.
=>Không dám tự đựa ra quyết định.
2. Luận điểm 2 : Nguyên nhân và tác hại của việc dựa dẫm
-Nguyên nhân dẫn đến thói quen dựa dẫm :
+ Gia đình bao bọc quá mức.
+ Tâm lí sợ khó, thất bại.
+ Thiếu ý thức, trách nhiệm.
+ Môi trường, hoàn cảnh sống.
+ Ảnh hưởng từ thói quen xấu của những người xung quanh.
-Tác hại của thói dựa dẫm :
+ Làm cong người trở nên thụ động, kém bản lĩnh.
+ Mất cơ hội rèn luyện năng lực.
+ Khó thích nghi, dễ thất bại trong cuộc sống.
(Cần triển khai rõ ràng từng ý)
3. Luận điểm 3 : Những ý kiến trái chiều
-Ý kiến trái chiều : Tuy nhiên, có nhiều người cho rằng dựa dẫm là điều cần thiết, vì con người không thể sống tách rời tập thể.
-Phản biện :
+ Ý kiến đó chỉ đúng một phần nhỏ, vì trong cuộc sống, ai cũng cần sự tương trợ lẫn nhau, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc ỷ lại vào người khác.
+ Ý kiến đó đang đánh đồng khái niệm "Giúp đỡ" với "Dựa dẫm". Giúp đỡ là sự chia sẻ khi cần thiết, còn dựa dẫm là né tránh trách nhiệm, làm mất đi ý chí vươn lên.
+ Người biết tự lập vẫn sẵn sàng học hỏi, tiếp nhận sự hỗ trợ nhưng không phụ thuộc hoàn toàn vào người khác.
4. Luận điểm 4 : Ý nghĩa và giải pháp cho việc từ bỏ thói quen dựa dẫm
-Ý nghĩa :
+ Giúp con người trưởng thành, tự tin.
+ Phát huy khả năng, bản lĩnh cá nhân.
+ Tạo nền tảng cho thành công lâu dài.
-Giải pháp :
+ Rèn luyện tính tự lập từ việc nhỏ.
+ Dám đương đầu với thử thách, khó khăn.
+ Tự đặt mục tiêu và chịu trách nhiệm với hành động của mình.
III. Kết bài
-Khẳng định lại tầm quan trọng của việc từ bỏ thói quen dựa dẫm.
-Liên hệ bản thân : Mỗi người cần chủ động rèn luyện để sống tự lập, có ích cho xã hội.
Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào Ê – đê: nhà ở trong nhà sàn, với nhiều hàng cốt, nhiều xà ngang – dọc, có cầu thang; có nhiều vật dụng như chiêng, mâm đồng, chậu thau…biểu thị cho sự sung túc…
- Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở quan niệm về người anh hùng của đồng bào Ê – đê qua nhân vật Đăm Săn; người anh hùng đại diện cho sức mạnh, ý chí của cộng đồng; mang vẻ đẹp khỏe khoẳn, có những khát vọng và ước mơ lớn lao về chinh phục vũ trụ, thiên nhiên
- Sức sống của sử thi Đăm Săn và đoạn trích Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời là ở cách kể chuyện chậm rãi, thường dừng lại ở những chi tiết, đoạn cao trào, tạo điểm nhấn và sự hồi hộp chờ đợi cho người đọc; lời kể thể hiện sắc thái riêng của lối kể khan của người Tây Nguyên; lời đối thoại thể hiện rõ giọng điệu, cá tính của từng nhân vật.
- Không gian nhà/rừng:
+ Nhà được miêu tả như là không gian văn hóa, nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng của con người.
+ Rừng được miêu tả như là không gian thiên nhiên, với rất nhiều bí ẩn, thử thách sức mạnh, lòng kiên trì và quả cảm của người anh hùng
+ Đường là ranh giới ngăn cách giữa không gian rừng và nhà.
- Không gian người/trời
+ Rừng Sáp Đen là không gian ngăn cách giữa trời và đất, làm nổi bật khoảng cách giữa không gian của trời và không gian của người
+ Hành động của Đăm Săn - cưỡi ngựa vượt qua những con đường gian nan, qua rừng Sáp Đen để di chuyển qua những không gian này cho thấy những không gian này tuy có khoảng cách nhưng vẫn tương thông với nhau: người trần có thể thâm nhập vào không gian của trời, giao tiếp với thế giới thần linh và thần linh cũng thường can dự dễ dàng vào không gian của con người
=> Cấu trúc không gian này thể hiện quan niệm của người Ê- đê về vũ trụ, trong đó trời và đất là một thể thống nhất, tương thông, trong vũ trụ “vạn vạt hữu linh” và có thể dễ dàng giao tiếp với nhau.
* Hành động đi bắt Nữ Thần Mặt Trời của Đam Săn có ý nghĩa:
+ Thể hiện khát vọng lớn lao và phẩm chất dũng cảm, phi thường của Đam Săn thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên của cộng đồng dân tộc Ê Đê.
+ Hành động quyết tâm chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của Đam Săn còn là biểu tượng cho xung đột quyền lực giữa người đàn ông và người phụ nữ trong xã hội mẫu hệ Ê Đê.
+ Hành động quyết tâm đi bắt Nữ Thần Mặt Trời của Đam Săn biểu trưng cho khát vọng chinh phục những vùng đất mới của cộng đồng.
+ Đam Săn quyết tâm đi bắt Nữ Thần Mặt Trời bất chấp can ngăn của mọi người. Hành động đó thể hiện ý chí tự do của người anh hùng mang lý tưởng cộng đồng.
- Trong thần thoại Hy Lạp: thần Hê-li-ớt (Helios) phân phát ánh sáng cho thế gian.
- Người Trung Quốc: Hậu Nghệ bắn Mặt Trời,...
- Ở châu Úc, Mặt Trời được coi là con trai của Đấng Sáng tạo và là gương mặt thần thánh khoan ái loài người.
- Pla-tông (Platon) coi Mặt Trời là hình ảnh của điều thiện.
- Trong kinh Vệ đà, Mặt Trời là con mắt của thế giới.
- Xuất hiện trở đi trở lại trong các tác phẩm văn chương và in dấu trong nhiều hoạt động văn hoá của con người.