Đặng Hồng Đức

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đặng Hồng Đức
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

..., ngày... tháng... năm 20...

BẢN TƯỜNG TRÌNH

Về việc chứng kiến vụ tai nạn giao thông tại [Địa điểm]

Kính gửi: Công an xã/phường/thị trấn [Tên địa phương].

Tôi tên là: [Họ và tên của em], sinh năm: [Năm sinh].

Số CCCD (nếu có): [Số CCCD]. Hiện cư trú tại: [Địa chỉ].

Tôi xin tường trình lại vụ tai nạn giao thông mà tôi đã chứng kiến như sau:

Thời gian: Khoảng [Giờ] ngày [Ngày/Tháng/Năm].

Địa điểm: Tại đoạn đường [Tên đường/Ngã tư...].

Diễn biến: Vào thời điểm trên, tôi thấy xe máy mang BKS [Biển số] đang lưu thông theo hướng [Hướng đi] thì va chạm với xe đạp do một bạn học sinh điều khiển đang sang đường. Do xe máy đi với tốc độ khá nhanh nên không kịp xử lý

.Hậu quả: Bạn học sinh bị ngã xuống đường, xe đạp bị hư hỏng phần bánh trước. Người đi xe máy đã dừng lại để phối hợp giải quyết.

Tôi xin cam đoan những lời khai trên hoàn toàn đúng sự thật và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Người viết tường trình

(Ký và ghi rõ họ tên)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

..., ngày... tháng... năm 20...

BẢN TƯỜNG TRÌNHVề việc hai bạn [Tên bạn A] và [Tên bạn B] xô xát trong lớp

Kính gửi: Thầy/Cô giáo chủ nhiệm lớp [Tên lớp].

Tôi tên là: [Họ và tên của em], học sinh lớp [Tên lớp].

Nay tôi viết bản tường trình này để thuật lại sự việc xảy ra vào ngày... tháng... năm... như sau:

Thời gian, địa điểm: Vào khoảng [Giờ] ngày [Ngày/Tháng/Năm] tại phòng học lớp [Tên lớp].

Diễn biến sự việc: Trong giờ ra chơi, bạn A và bạn B có xảy ra tranh cãi về việc [Lý do, ví dụ: mượn sách]. Sau đó, bạn A đã đẩy bạn B ngã, dẫn đến việc hai bạn lao vào đánh nhau.

Hậu quả: Bạn B bị trầy xước ở tay, một chiếc bàn bị xô lệch. Em và các bạn khác đã vào can ngăn ngay sau đó.

Tôi cam đoan những nội dung trên là đúng sự thật.

Người viết tường trình

(Ký và ghi rõ họ tên)

Câu 1.

Bài làm

Qua đoạn văn, ta cảm nhận được tình yêu ẩm thực truyền thống sâu sắc và đầy trân trọng của nhân vật "tôi". Đối với tác giả, những thức quà quê không chỉ đơn thuần là món ăn để thưởng thức mà còn là "linh hồn" của dân tộc, là sợi dây vô hình kết nối giữa quá khứ và hiện tại. Tình yêu ấy được thể hiện qua cái nhìn trân quý: mỗi hương vị truyền thống đều chứa đựng bản sắc văn hóa không thể hòa tan. Việc gìn giữ những món ăn này không chỉ là bảo tồn một công thức, mà còn là cách để bồi đắp tình yêu quê hương và niềm tự hào dân tộc. Nhân vật "tôi" đã lan tỏa một thông điệp mạnh mẽ về ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc quảng bá nét đẹp văn hóa này giữa nhịp sống hiện đại hối hả.

Câu 2.

Bài làm

Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia và cá nhân. - Khẳng định vị thế và sự khác biệt: Bản sắc văn hóa là "tấm căn cước" giúp mỗi dân tộc phân biệt mình với các dân tộc khác. Giữa một thế giới phẳng, nếu không có bản sắc riêng, chúng ta sẽ dễ dàng bị hòa tan và đánh mất đi giá trị cốt lõi của mình. Bồi đắp tâm hồn và lòng tự hào: Văn hóa truyền thống là nguồn sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn, giúp mỗi người hiểu rõ về cội nguồn, lịch sử của cha ông. Từ đó, khơi dậy lòng tự tôn dân tộc và tình yêu quê hương đất nước sâu sắc. - Giá trị tinh thần và vật chất: Việc bảo tồn các di sản văn hóa, lễ hội, ẩm thực... không chỉ làm giàu đời sống tinh thần mà còn tạo ra những giá trị kinh tế lớn thông qua phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh quốc gia ra thế giới. - Điểm tựa cho tương lai: Giữ gìn bản sắc không phải là bảo thủ, trì trệ mà là chọn lọc những gì tinh túy nhất để làm nền tảng cho sự phát triển bền vững. "Hòa nhập nhưng không hòa tan" chính là chìa khóa để tiến ra thế giới một cách tự tin. Kết luận: Mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần có ý thức học hỏi, trân trọng và bảo vệ những nét đẹp văn hóa truyền thống từ những hành động nhỏ nhất như sử dụng tiếng Việt đúng cách, tìm hiểu về ẩm thực địa phương... Giữ gìn bản sắc chính là giữ gìn linh hồn của dân tộc cho muôn đời sau.


Câu 1.

- Phương thức biểu đạt chính là Biểu cảm (kết hợp với tự sự và thuyết minh).

Câu 2.

- Biện pháp tu từ: So sánh ("bột nhỏ như phấn", "làm bật ra ngoài như làn khói").

- Tác dụng: Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm; diễn tả một cách sinh động, hóm hỉnh sự tinh tế của món ăn cũng như cảm giác tiếc nuối, trẻ con của nhân vật khi lỡ làm rơi mất miếng bánh ngon.

Câu 3.

- Đề tài: Ẩm thực (quà Hà Nội).

- Chủ đề: Thể hiện sự tinh tế, trân trọng và tình yêu sâu sắc của tác giả đối với những nét đẹp văn hóa, phong vị truyền thống của Hà Nội qua những món quà quê giản dị.

Câu 4.

- Nhận xét: Đó là một cái "tôi" tinh tế, sành sỏi và đầy trân trọng. Tác giả không chỉ thưởng thức món ăn mà còn am hiểu tường tận cái hồn, cái riêng của từng thức quà, thể hiện thái độ nâng niu và tôn vinh những giá trị văn hóa ẩm thực bình dị.

Câu 5.

Bài làm

Trong nhịp sống hiện đại với sự lên ngôi của thức ăn nhanh và sự giao thoa văn hóa, việc giữ gìn hương vị truyền thống là vô cùng cần thiết. Những thức quà quê không chỉ là món ăn mà còn là "linh hồn" của dân tộc, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Chúng ta cần trân trọng, bảo tồn và quảng bá những nét đẹp này để bản sắc văn hóa không bị hòa tan. Giữ gìn hương vị truyền thống cũng chính là cách để bồi đắp tình yêu quê hương và niềm tự hào dân tộc trong mỗi con người.

Văn bản tái hiện bức tranh sinh động về cách thức di chuyển và vận chuyển hàng hóa của các dân tộc thiểu số Việt Nam thời xưa. Đối với các dân tộc vùng núi phía Bắc như người Mông, người Dao, phương thức phổ biến nhất là dùng sức người với chiếc gùi trên vai, hoặc sử dụng ngựa thồ trên những cung đường hiểm trở. Tại vùng Tây Nguyên, người dân lại có truyền thống thuần dưỡng voi và trâu để kéo, chở đồ đạc, đồng thời sử dụng xe quệt gỗ kéo trên đất. Đặc biệt, đối với những khu vực có sông suối, thuyền độc mộc làm từ thân cây gỗ lớn là phương tiện vô cùng quan trọng của nhiều dân tộc như Thái, Kháng, và các tộc người ở Tây Nguyên. Tác giả đã chỉ rõ sự khác biệt giữa các loại phương tiện dựa trên đặc điểm địa hình và tập quán sinh hoạt của từng vùng miền. Tổng kết lại, văn bản cho thấy sự sáng tạo, khéo léo của đồng bào dân tộc trong việc chế tác công cụ lao động, đồng thời tôn vinh giá trị văn hóa lịch sử của các phương tiện vận chuyển truyền thống.

Văn bản cung cấp cái nhìn chi tiết về thế giới ghe xuồng – một phần không thể thiếu trong đời sống của cư dân vùng sông nước Nam Bộ. Mở đầu, tác giả khẳng định sự đa dạng của các phương tiện này dựa trên điều kiện tự nhiên kênh rạch chằng chịt. Về các loại xuồng, văn bản liệt kê xuồng ba lá nhỏ gọn, xuồng tam bản chắc chắn, xuồng vỏ gòn, xuồng độc mộc và xuồng máy hiện đại. Tiếp theo là các loại ghe với quy mô lớn hơn như ghe bầu để chở hàng đi xa, ghe chài to lớn, ghe cào tôm, hay đặc biệt là ghe ngo gắn liền với lễ hội của người Khmer. Tác giả không chỉ mô tả hình dáng, cấu tạo mà còn giải thích cách đặt tên và công dụng của từng loại. Cuối cùng, văn bản nhấn mạnh rằng dù cuộc sống có hiện đại hơn, ghe xuồng vẫn giữ vai trò quan trọng, là biểu tượng cho nét văn hóa sinh hoạt độc đáo và tinh thần sáng tạo của con người nơi đây.

Ai ai trong cuộc đời học sinh cũng có một người thầy hay một người cô giáo mà mình yêu mến, kính trọng. Em cũng vậy. Trong 2 năm thcs , có nhiều cô dạy em và cô nào em cùng yêu mến, kính trọng nhưng người khiến em yêu mến nhất chính là cô hạnh Cô Hạnh là giáo viên chủ nhiệm của em khi 2 năm thch. Nguyễn Bích Hạnh là tên cô. Ôi! Cái tên mới đẹp làm sao! Cô có vóc dáng hơi gầy nhưng khá cao. Em được biết cô năm nay 46 tuổi nhưng em thấy cô như trẻ hơn cái tuổi của mình. Khuôn mặt cô hình trái xoan rất đẹp. Mái tóc cô ngắn, có màu đen nhánh thường được cô thả. Trông cô thật trẻ trung khi cô thả bởi vì mái tóc đó rất hợp với khuôn mặt hình trái xoan của cô. Cô có một đôi mắt rất đẹp, nổi bật trên khuôn mặt. Dưới đôi mắt tinh anh kia là một cái mũi dọc dừa, thanh tú làm sao! Cô rất hay cười và mỗi lần cười cô lại để lộ hàm răng trắng tinh, đều tăm tẳp đằng sau đôi môi đỏ tươi. Nước da cô trắng ngần, tuyệt đẹp. Mỗi khi cô bước đi trên bục giảng là tà áo dài tím lại phấp phới bay. Trong lớp em, ai cũng bảo là cô đẹp nhất trường. Đứa nào cũng ước được đẹp giống cô một chút thôi cũng được. Cô Hạnh là một giáo viên nhiều kinh nghiệm, tâm huyết với nghề; đi dạy đã gần hai mươi năm. Cô Hạnh rất thương yêu học sinh và lúc nào cũng muốn giúp đỡ học trò học giỏi, đạt kết quả tốt. Trong lớp em năm đó có khoảng chừng bảy bạn học không tốt. Cô liền dạy phụ đạo thêm cho các bạn đến khi nào các bạn tiến bộ hẳn và cô không nhận một đồng nào từ phụ huynh. Cô còn cố gắng đến trường sớm để cùng truy bài với chúng em. Không những vậy, cô còn quan tâm giúp đỡ các bạn nghèo, khó khăn. Các phụ huynh và chúng em rất cảm động trước tấm lòng yêu thương rộng lớn của cô đối với học sinh. Mẹ em bảo rằng: “Cô Hành đúng là một giáo viên giỏi, tận tâm với học sinh. Mẹ rất mừng vì con được cô dạy học.”. Em thầm nghĩ rằng mẹ nói thật đúng vì cô Hạnh là giáo viên giỏi, tận tâm khi mà chúng em không hiểu chỗ nào là cô sãn sàng giảng lại kĩ hơn cho chúng em hiểu. Em thấy mình may mắn khi được vào học lớp cô. Đối với đồng nghiệp, cô Hạnh luôn vui vẽ, cởi mở và cô luôn dìu dắt các đồng nghiệp trẻ. kính trọng các thầy cô lớn tuổi hơn mình. Em được biết rằng, gia đình cô chẳng khá giả gì. Chồng cô là một quân đội. Nhà cô có hai anh em , một anh lớn đang học đại học, có một chị đang học lớp 9 chuẩn bị thi vào lớp 10 Bây giờ em vậy được cô dạy học .Em thật sự yêu mến, kính trọng và rất khâm phục cô Hạnh . Cô Hạnh là người em yêu mến, kính trọng vì cô là giáo viên hết sức thương yêu học sinh. Em luôn mong cô được khoẻ mạnh, hạnh phúc, được học sinh yêu mến.

Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng cao đẹp nhất của lòng yêu nước và tinh thần hy sinh vì dân tộc. Mỗi khi nhắc về Người, lòng em lại trào dâng một niềm xúc động khó tả, đặc biệt là khi nghĩ về khoảnh khắc Bác rời bến Nhà Rồng, bắt đầu hành trình vạn dặm tìm đường cứu nước. Sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1911 đã trở thành một cột mốc lịch sử thiêng liêng. Khi ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành mới chỉ ngoài đôi mươi, với đôi bàn tay trắng và ý chí sắt đá, đã quyết định xuống tàu Latouche-Tréville để sang phương Tây. Em vô cùng cảm phục trước suy nghĩ táo bạo và tầm nhìn xa trông rộng của Người. Trong lúc các bậc tiền bối còn đang bế tắc, Bác đã chọn cho mình một lối đi riêng: đi sâu vào "hang ổ" của kẻ thù để tìm hiểu chân lý. Hình ảnh Bác làm phụ bếp, quét tuyết giữa mùa đông lạnh giá ở London hay làm thợ ảnh ở Paris luôn khiến em nghẹn ngào. Vì ai mà Người phải chịu đựng gian khổ? Vì ai mà Người phải rời xa quê hương Nghệ An thân thương, nơi có những người thân đang mong đợi? Câu trả lời chính là vì đồng bào, vì hai chữ "độc lập" thiêng liêng. Lòng yêu nước của Bác không chỉ là những lời nói hào sảng mà là những hành động thực tế, là sự đánh đổi cả tuổi thanh xuân và cuộc đời mình. Hành trình 30 năm bôn ba của Bác không chỉ là hành trình của một cá nhân, mà là hành trình tìm lại "hình của Nước". Nhờ có quyết định lịch sử ấy, dân tộc ta mới thoát khỏi xiềng xích nô lệ, được sống trong hòa bình và tự do như ngày hôm nay. Càng tìm hiểu về cuộc đời của Bác, em càng thêm kính trọng và biết ơn vị cha già dân tộc. Bác chính là tấm gương sáng ngời về nghị lực và khát vọng. Em tự hứa với lòng mình sẽ cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức để xứng đáng là con cháu của Bác Hồ, góp phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp như mong ước lúc sinh thời của Người.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương mà nó để lại vẫn còn nhức nhối trong lòng người ở lại. Trong tản văn "Người ngồi đợi trước hiên nhà", nhà văn Huỳnh Như Phương đã khắc họa đầy xúc động hình ảnh dì Bảy – một người phụ nữ với sự hy sinh thầm lặng và lòng thủy chung son sắt, khiến bất cứ ai đọc qua cũng phải nghẹn ngào. Sự hy sinh của dì Bảy trước hết nằm ở sự chờ đợi vô vọng suốt mấy mươi năm. Cưới nhau vỏn vẹn một tháng, dượng Bảy đã phải lên đường ra Bắc. Kể từ đó, tuổi xuân của dì trôi qua bên hiên nhà cũ, nơi dì dõi mắt nhìn ra con đường vắng với hy vọng mong manh về một ngày đoàn tụ. Dì đã dành cả quãng đời đẹp nhất của người phụ nữ để đổi lấy hai chữ "đợi chờ". Dù có những người ngỏ ý muốn chăm sóc, dì vẫn khước từ để giữ trọn lời thề nguyền với người đi xa. Càng xúc động hơn khi ta thấy được sự kiên cường trong nỗi đau của dì. Khi chiến tranh kết thúc, thay vì niềm vui sum họp, dì lại nhận được tin dượng đã hy sinh vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Sự hy sinh của dì không ồn ào, không phô trương mà lặng lẽ như chính cái tên của bài văn. Dì không gục ngã, mà chọn cách sống tiếp để thờ phụng dượng, coi dượng như vẫn luôn hiện diện trong căn nhà nhỏ. Hình ảnh dì Bảy ngồi bên hiên nhà đã trở thành một biểu tượng bất tử về tình nghĩa vợ chồng và lòng vị tha. Dì không chỉ hy sinh hạnh phúc cá nhân mà còn đại diện cho hàng triệu người phụ nữ Việt Nam "ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ". Qua nhân vật dì Bảy, em càng thêm trân trọng hòa bình và thấu hiểu cái giá đắt mà cha ông đã phải trả để đổi lấy độc lập ngày hôm nay. Dì Bảy chính là bài ca về lòng chung thủy, là tấm gương sáng về đạo lý sống tốt đẹp của dân tộc ta. Dù thời gian có trôi đi, hình bóng người phụ nữ ngồi đợi trước hiên nhà vẫn mãi để lại trong lòng độc giả một nỗi buồn man mác nhưng đầy sự kính trọng.