Phạm Thúy Hạnh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Thúy Hạnh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Năm cô được phân công dạy lớp em, cô Mai không còn trẻ nữa bởi mái tóc cô đã ngả màu hoa râm. Dáng người cô hơi gầy, tác phong điềm tĩnh nhưng xử lý công việc lại rất gọn gàng và nước da hơi rám nắng của cô khiến bất cứ ai đã nhìn là nhớ mãi. Nhưng điểm nổi bật nhất của cô có lẽ là đôi mắt. Đôi mắt cô hơi trĩu xuống, có đôi vết chân chim do dấu hiệu của tuổi tác nhưng khi nhìn lướt qua thì khó có thể thấy, vì nó luôn bị che khuất bởi cặp kính dày viền của cô. Hàng ngày, cô đến trường, ăn mặc chỉ là áo sơ mi, quần tây, trên tay xách chiếc cặp đen, trông cô thật giản dị, gần gũi nhưng vẫn toát lên nét sang của một người giáo viên.

Trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam, hình ảnh Bác Hồ luôn hiện lên thật cao đẹp và kính yêu. Mỗi khi nhắc đến Bác, em lại nhớ ngay đến sự kiện quan trọng nhất, mở đầu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: đó chính là ngày Bác rời quê hương để ra đi tìm đường cứu nước.


Em đã được xem những thước phim tư liệu và nghe thầy cô kể về ngày 5/6/1911 tại bến cảng Nhà Rồng. Lúc đó, Bác mới chỉ là một chàng thanh niên trẻ tuổi mang tên Nguyễn Tất Thành. Em thực sự khâm phục ý chí của Bác. Trong khi nhiều người khác còn đang bế tắc trước cảnh nước mất nhà tan, Bác đã quyết tâm ra đi với hai bàn tay trắng. Khi được hỏi lấy tiền đâu để đi, Bác đã giơ hai bàn tay ra và nói: "Tiền đây". Câu nói ấy khiến một học sinh như em thấy vô cùng tự hào về lòng dũng cảm và quyết tâm sắt đá của Bác.


Em cảm thấy rất xúc động khi nghĩ về nỗi lòng của Bác lúc rời xa quê hương. Chắc hẳn Bác cũng rất nhớ gia đình, nhớ làng Sen, nhớ quê cha đất tổ. Nhưng vì tình yêu thương đồng bào đang lầm than dưới ách đô hộ, Bác đã nén nỗi đau riêng để ra đi. Bác chấp nhận làm những công việc nặng nhọc như phụ bếp, quét tuyết... ở nơi xứ người xa lạ, chịu đựng cái lạnh cắt da cắt thịt chỉ để tìm ra con đường giúp dân tộc ta được tự do.


Sự hy sinh của Bác thật vĩ đại. Nếu không có ngày ra đi định mệnh ấy, có lẽ chúng em đã không được sống trong hòa bình, không được cắp sách đến trường vui vẻ như hôm nay. Mỗi lần nhìn thấy ảnh Bác treo trên bảng đen ở lớp, em lại thầm cảm ơn người thanh niên yêu nước năm xưa đã dám dấn thân vào gian khổ vì tương lai của đất nước.


Hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ là một bài học lớn về lòng yêu nước và ý chí vượt khó. Là một học sinh lớp 7, em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức theo 5 điều Bác Hồ dạy để xứng đáng với những gì Bác đã hy sinh cho chúng em.

Trong tác phẩm “Người ngồi đợi trước hiên nhà” của Huỳnh Như Phương, nhân vật dì Bảy đã được khắc họa với nhiều phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Nội dung của tác phẩm kể về cuộc đời của nhân vật chính - dì Bảy. Dượng Bảy và dì Bảy cưới nhau được một tháng, thì dượng phải lên đường ra Bắc tập kết. Ra miền Bắc rồi vào lại miền Nam chiến đấu, dượng Bảy vẫn liên lạc với gia đình. Dượng Bảy ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, trên đường tiến vào Sài Gòn. Ngày hòa bình, dì Bảy đã qua tuổi bốn mươi. Vẫn có người đàn ông để ý đến dì, nhưng lòng dì không còn rung động. Dì Bảy năm nay tròn tám mươi tuổi, đang ngồi một mình đợi Tết.

Có thể thấy rằng, nhân vật dì Bảy mang những vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam - giàu đức hy sinh, tấm lòng thủy chung son sắc. Dượng Bảy và dì Bảy chỉ mới kết hôn được một tháng, đây là giai đoạn tình cảm vợ chồng vẫn còn mặn nồng, gắn bó. Dù vậy, dì Bảy vẫn chấp nhận để chồng tập kết ra bắc, đôi người đôi ngả. Ở đây, có thể thấy được sự hy sinh của dì xuất phát từ tấm lòng yêu quê hương, đất nước. Dì đã đặt lợi ích của đất nước lên trên hạnh phúc của cá nhân. Điều đó khiến người đọc thêm cảm phục trước tấm lòng của nhân vật này.

Không chỉ vậy, dì Bảy còn là một người phụ nữ hết mực thủy chung. Trong những năm xa cách, dì Bảy luôn giữ liên lạc với dượng Bảy, đợi chờ chồng trở về. Mỗi khi nhận được thư của chồng, dì lại cảm thấy hạnh phúc, hy vọng đến ngày được đoàn tụ. Hình ảnh khiến cho người đọc cảm thấy ấn tượng nhất đó chính là mỗi ngày, sau khi đi làm đồng về, dì lại ngồi trên bộ phản gõ ngoài hiên nhìn ra con ngõ, nơi ngày xưa dượng Bảy cùng đồng đội đến nhà xin trú quân. Dượng Bảy đã hy sinh, ngày hòa bình lặp lại, dì đã bốn mươi tuổi, nhưng vẫn có người đàn ông để ý đến dì. Dù vậy, lòng dì Bảy đã không còn rung động. Dì đã giữ tấm lòng thủy chung như vậy cho đến hết đời.

Có thể thấy rằng, dì Bảy chỉ là một trong rất nhiều người phụ nữ Việt Nam thuở còn chiến tranh. Từ đó, chúng ta thấy rằng sự hy sinh thầm lặng, cao cả của những người phụ nữ trong các cuộc kháng chiến thật đáng ngưỡng mộ và trân trọng. Từ đó, mỗi người cần có thái độ tôn trọng, biết ơn những người phụ nữ như dì Bảy.

Qua nhân vật dì Bảy trong Người ngồi đợi trước hiên nhà, tôi đã học được thêm bài học quý giá về phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Đặc biệt, tôi cũng cảm thấy vô cùng yêu mến và cảm phục nhân vật dì Bảy.

Tóm tắt 5-6 dòng:

Văn bản giới thiệu các phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa. Do địa hình chủ yếu là núi rừng hiểm trở, họ sử dụng những cách di chuyển phù hợp như gùi, ngựa thồ, voi hoặc đi bộ. Mỗi phương tiện gắn với điều kiện tự nhiên và tập quán sinh hoạt riêng. Các công cụ vận chuyển thường đơn giản, do con người tự chế tạo.

tóm tắt 10-12 dòng:


Tóm tắt 5-6 dòng:

Văn bản “Ghe xuồng Nam Bộ” giới thiệu về phương tiện đi lại quen thuộc của người dân vùng sông nước. Ghe xuồng có nhiều loại, phù hợp với từng mục đích như chở hàng, đi lại hay đánh bắt cá. Chúng được làm chủ yếu từ gỗ, có hình dáng thon dài để dễ di chuyển trên kênh rạch. Ghe xuồng gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt và lao động của người dân Nam Bộ. Không chỉ là phương tiện, nó còn thể hiện nét văn hóa đặc trưng của vùng miền.

tóm tắt 10- 12 dòng: