Đỗ Hồng Duyên
Giới thiệu về bản thân
Lịch sử dân tộc không chỉ là những trang sách ghi chép sự kiện, mà trước hết là câu chuyện về con người. Vì vậy, ý kiến “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” đã gợi nhắc sâu sắc về lòng biết ơn đối với những anh hùng đã hi sinh vì đất nước.
“Bài giảng lịch sử” thường là hệ thống kiến thức, mốc thời gian, chiến công được trình bày trong nhà trường. Trong khi đó, “người làm nên lịch sử” chính là những con người cụ thể: người lính ngã xuống nơi chiến trường, người dân chịu bom đạn, những thế hệ âm thầm hi sinh để bảo vệ độc lập. Lòng yêu nước không bắt đầu từ những điều lớn lao, mà từ sự xúc động trước những con người bình dị ấy. Khi ta hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng xương máu, ta mới thực sự trân trọng và biết ơn.
Chính những câu chuyện người thật, việc thật là nền tảng nuôi dưỡng tình yêu nước. Vì vậy, mỗi người cần ghi nhớ công lao của các anh hùng, đồng thời cần đổi mới cách dạy và học lịch sử để lịch sử trở nên gần gũi, giàu cảm xúc hơn.
Nhận thức được điều đó, bản thân em tự nhắc mình phải sống có trách nhiệm, trân trọng hiện tại và cố gắng học tập để xứng đáng với sự hi sinh của cha anh.
Câu 1:
- Số chữ trong các dòng không bằng nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do trong đoạn trích.
Câu 2:
- Bài thơ trên thể hiện tình yêu nước dâng trào mãnh liệt của nhân vật trữ tình khi thấy đất nước mạnh mẽ chiến đấu chống giặc ngoại xâm.
Câu 3
- Các biện pháp tu từ được sử dụng:
+ Điệp từ: “Mỗi”, “Đều”.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh rằng tất cả những người con đất Việt đều đã được sinh ra và lớn lên một cách kiên cường dưới thời chiến tranh bom đạn.
+ Tăng tính liên kết và tạo nhịp điệu cho đoạn thơ.
Câu 4
- “Vị ngọt” trong câu thơ cuối cùng của đoạn trích là vị ngọt của một đất nước thanh bình, hạnh phúc, không có chiến tranh.
- Vị ngọt đó có được từ nỗ lực sống và chiến đấu của tất cả người dân trên mọi miền Tổ quốc.
Câu 5
- Có thể trả lời theo nhiều cách, đảm bảo một trong các ý sau:
+ Lòng yêu nước là cội nguồn tinh thần của mỗi con người.
+ Lòng yêu nước là yếu tố quan trọng giúp cho đất nước phát triển vững mạnh.
+ Người có lòng yêu nước có những nhận thức và hành vi đúng đắn trong xã hội.
+ Lòng yêu nước giúp nâng cao tình bạn, đồng đội giữa con người, tạo tinh thần đồng bào mạnh mẽ.
1 | Thể thơ: Tự do | 0.5 |
2 | Bài thơ trên thể hiện cảm xúc lo lắng, bất an, tràn đầy hoài nghi của nhân vật trữ tình đối với một tương lai chưa biết. | 1.0 |
3 | - Các biện pháp tu từ được sử dụng: + Nhân hóa: Mưa cướp đi ánh sáng của ngày + So sánh: Hạnh phúc con người mong manh mưa sa. - Tác dụng: + Làm câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. + Nhân hóa: Gợi hình ảnh mưa giống như là một tên kẻ xấu xa mang đi hết những hi vọng của con người. + So sánh: Gợi được cảm giác mong manh, dễ vỡ vụn của hạnh phúc mà con người gắng nắm lấy. | 1.5 |
4 | - Có thể viết theo nhiều cách khác nhau, ví dụ như: Con người có thể bất an, hoài nghi để rồi sợ hãi những điều chưa đến; Con người có thể chuẩn bị tốt cho mình để vững vàng đối mặt; Con người có thể sống tốt để tận hưởng từng giây phút hiện tại... |
| ||
2.0 | ||
0.25 | ||
0.25 | ||
0.5 | ||
0.5 | ||
0.25 | ||
0 | ||
2 | 4 | |
0.25 | ||
0.5 | ||
Câu 1
Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ
Trong bài thơ Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa, Lưu Quang Vũ đã xây dựng hình tượng mưa như một biểu tượng giàu ý nghĩa, góp phần thể hiện chiều sâu cảm xúc và triết lí nhân sinh của tác phẩm. Trước hết, mưa là sự thử thách lòng người trước những tác động của ngoại cảnh. Khi mưa đến, con người không chỉ đối diện với thiên nhiên khắc nghiệt mà còn phải đối diện với chính sự mong manh trong cảm xúc và niềm tin của mình. Bên cạnh đó, mưa còn gắn với sự đổi thay, với khả năng xóa nhòa những tình cảm từng nồng nàn, bền chặt. Cơn mưa trong thơ Lưu Quang Vũ vì thế gợi lên nỗi lo âu về sự phai nhạt của yêu thương trước dòng chảy không ngừng của thời gian. Sâu xa hơn, mưa là ẩn dụ cho những chông gai, bất trắc có thể xảy đến trong đời người, những điều con người không thể lường trước hay ngăn cản. Qua hình tượng mưa, nhà thơ gửi gắm dự cảm về quy luật biến đổi khôn lường của cuộc sống, đồng thời bộc lộ khát vọng được giữ gìn, trân trọng những giá trị tình cảm mong manh nhưng vô cùng quý giá.
Câu 2
Viết bài văn nghị luận xã hội khoảng 600 chữ
Trong cuộc sống, không phải ai cũng luôn ý thức rõ mình đang sống như thế nào và vì điều gì. Bởi vậy, lời nhắn nhủ của Howard Thurman: “Hãy tự hỏi xem điều gì sẽ khiến bạn tỉnh thức, và thực hiện điều đó. Bởi cái thế giới cần là những con người đã thức tỉnh” mang ý nghĩa sâu sắc, giúp con người nhìn lại chính mình và cách mình tồn tại trong cuộc đời. Những điều làm con người tỉnh thức chính là những giá trị giúp ta sống có ý nghĩa, có trách nhiệm và có chiều sâu.
“Tỉnh thức” là trạng thái con người sống có ý thức về bản thân, về cuộc đời và về những gì mình đang làm. Đó không chỉ là sự tỉnh táo trong suy nghĩ mà còn là sự thức tỉnh trong tâm hồn. Một trong những điều quan trọng làm con người tỉnh thức là việc tìm ra ý nghĩa tồn tại của bản thân. Mỗi người cần tự đặt cho mình câu hỏi: “Ta sống vì điều gì?” Khi có mục tiêu và lý tưởng rõ ràng, con người sẽ không sống hoài, sống phí mà biết trân trọng từng khoảnh khắc, từng cơ hội của cuộc đời.
Bên cạnh đó, ý thức về sự tồn tại và trách nhiệm với cuộc sống cũng giúp con người tỉnh thức. Khi biết mình sống không chỉ cho riêng mình mà còn cho gia đình, cộng đồng và xã hội, con người sẽ hành động tích cực hơn, biết làm những điều tốt đẹp và hướng tới các giá trị nhân văn. Những hành động tử tế, dù nhỏ bé, cũng có thể trở thành động lực đánh thức lòng nhân ái và ý nghĩa sống trong mỗi người.
Ngoài ra, sống tỉnh thức giúp con người chú tâm trọn vẹn vào hiện tại. Khi tập trung vào những việc đang làm, con người sẽ nhận diện rõ cảm xúc, suy nghĩ của bản thân cũng như những gì đang diễn ra xung quanh. Nhờ đó, công việc được thực hiện một cách chỉn chu, hiệu quả, còn cuộc sống trở nên sâu sắc và có giá trị hơn. Những con người sống tỉnh thức không dễ bị cuốn theo thói quen vô thức hay những giá trị bề nổi của xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng trong cuộc sống đầy áp lực, con người khó có thể luôn tỉnh thức. Điều này là có cơ sở, nhưng không vì thế mà ta buông xuôi. Chính trong những hoàn cảnh khó khăn, sự tỉnh thức càng trở nên cần thiết để giúp con người không lạc hướng và đánh mất bản thân.
Tóm lại, những điều làm con người tỉnh thức chính là mục tiêu sống, trách nhiệm với cuộc đời và khả năng sống trọn vẹn với hiện tại. Khi mỗi cá nhân biết tự đánh thức mình, họ không chỉ làm cho cuộc đời riêng trở nên ý nghĩa hơn mà còn góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, nhân văn và tiến bộ.
Nội dung | Điểm |
a. Xác định yêu cầu của kiểu bài: Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội. | 0.25 |
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Hành động bảo vệ môi trường của giới trẻ hiện nay. | 0.25 |
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết: - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: + Nguồn gốc của "hội chứng Ếch luộc": Gắn với tình huống: Nếu thả con ếch vào nồi nước sôi, nó có thể lập tức tìm cách nhảy ra ngoài. Nhưng nếu thả nó vào một nồi nước bình thường rồi từ từ đun sôi lên từng chút một, nó sẽ mất cảnh giác và mất luôn tính mạng của mình. Đó là bởi sự tăng dần của nhiệt độ nước khiến cho con ếch không hề đề phòng mà chết đi khi nước đạt đến độ nóng vừa đủ. Cũng như trong cuộc sống, sự an toàn, dễ chịu của môi trường sống sẽ dần khiến ta buông lỏng cảnh giác, mất đi sự nhạy bén và dần trở nên bị động. Kết cục là một hệ quả hết sức đáng tiếc. + Nguyên nhân của vấn đề: Khi sống mãi trong sự thoải mái, con người sẽ dần buông thả bản thân và dần thích nghi với lối sống ổn định qua ngày. Chính điều này sẽ giết chết khả năng phản ứng, xử lý vấn đề của chúng ta. + Hệ quả: Con người dần trở nên bị động hơn, kéo theo đó là: ++ Mất đi khả năng tự chủ, tự học và tự giải quyết vấn đề. ++ Nhanh chóng bị xã hội đào thải. + Giải pháp: ++ Tích cực thay đổi, không ngừng học hỏi để phát triển bản thân. ++ Không ngại thay đổi môi trường sống, tham gia vào các hoạt động tập thể để trải nghiệm, trau dồi bản thân. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. | 1.0 |
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. | 1.5 |
e. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. | 0.25 |
f. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
a. Xác định yêu cầu của kiểu bài: Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội. | 0.25 |
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Hiện tượng các bạn trẻ thế hệ gen Z bị gắn mác, quy chụp bởi nhiều định kiến tiêu cực về lối sống và cách làm việc. | 0.25 |
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết: - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: - Giải thích từ khóa: Gen Z, gắn mác, quy chụp. - Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: + Thực trạng của vấn đề: Hiện nay, có nhiều bạn trẻ thuộc thế hệ gen Z bị gắn mác về lối sống, các làm việc trong môi trường sinh sống, học tập và làm việc. (Trích dẫn số liệu, minh chứng cụ thể, chính xác, đầy đủ) + Nguyên nhân của vấn đề: ++ Một số cá nhân có biểu hiện không tốt dẫn đến những ấn tượng không tốt trong mắt mọi người xung quanh. ++ Cái nhìn phiến diện, đánh đồng của mọi người. + Hệ quả: Nhiều bạn trẻ sẽ gặp phải những trở ngại như: ++ Dễ bị ảnh hưởng về mặt tâm lý bởi những yếu tố tiêu cực từ sự đánh giá, quy chụp của mọi người xung quanh. ++ Khó hòa nhập với tập thể. ++ Khó có cơ hội thăng tiến tại nơi làm việc. + Giải pháp: ++ Tích cực thay đổi, thể hiện bản thân để thay đổi định kiến của mọi người. ++ Góp ý cho những bạn trẻ khác có biểu hiện không tốt để đối phương thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. | 1.0 |
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. | 1.5 |
e. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. | 0.25 |
f. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
a. Xác định yêu cầu của kiểu bài: Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội. | 0.25 |
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: góp ý, nhận xét người khác trước đám đông. | 0.5 |
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết: - Xác định được các ý chính của bài viết. - Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận: * Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Triển khai vấn đề nghị luận: - Giải thích vấn đề nghị luận: Thế nào là nhận xét, góp ý cho người khác trước đám đông? - Thể hiện quan điểm của người viết: + Cần lưu ý những gì khi nhận xét, góp ý cho người khác trước đám đông? + Nếu chúng ta góp ý, nhận xét không khéo léo sẽ nảy sinh những vấn đề nào? + Rút ra bài học về cách góp ý, nhận xét cho người khác. | 1.0 |
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng. | 1.5 |
e. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. | 0.25 |
f. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. |
1 | Thể thơ: tám chữ. | 0.5 |
2 | Một số từ ngữ từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước: biển, sóng dữ, Hoàng Sa, Tổ quốc, màu cờ nước Việt, ngư dân,... | 0.5 |
3 | – HS chỉ ra được biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ: Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta – HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ so sánh: + Giúp tăng tính sinh động, gợi hình cho sự diễn đạt. + Khẳng định sự gắn bó của Tổ quốc đối với mỗi người dân Việt Nam. + Cho thấy tình yêu nồng nàn dành cho Tổ quốc của tác giả. | 1.0 |
4 | Nhà thơ thể hiện những tình cảm sau: – Niềm tự hào đối với lịch sử dân tộc. – Lòng biết ơn đối với những người lính và ngư dân bám biển. | 1.0 |
5 | HS trình bày được suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ biển đảo quê hương, có thể theo hướng sau: – Bản thân cần có trách nhiệm bảo vệ biển đảo quê hương. – Trách nhiệm bảo vệ biển đảo quê hương được thể hiện qua các biểu hiện sau: + Chủ động tìm hiểu về biển đảo quê hương. + Biết ơn những người đã có công bảo vệ, giữ gìn biển đảo quê hương. + Tích cực ủng hộ các phong trào liên quan đến bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. + Tuyên truyền về trách nhiệm bảo vệ biển đảo quê hương đến mọi người xung quanh. |
1 | Văn bản thể hiện tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình khi xa quê. | 0.5 |
2 | Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê ta: nắng, màu mây trắng (mây trắng), đồi nhuộm vàng trên đỉnh ngọn. | 0.5 |
3 | Cảm hứng chủ đạo: nỗi nhớ quê nhà da diết. | 1.0 |
4 | Khổ thơ đầu tiên: ngỡ như mình đang ở quê nhà, ngỡ nắng vàng, mây trắng quê người như nắng vàng, mây trắng quê nhà. Khổ thơ thứ ba: ý thức rõ mình đang ở quê người, ngắm nắng vàng, mây trắng cho khuây khỏa nỗi nhớ quê hương. | 1.0 |
5 | HS nêu quan điểm cá nhân. Ví dụ: ấn tượng nhất với hình ảnh Tôi ngỡ là tôi lúc ở nhà. Hình ảnh này cho thấy nỗi nhớ quê hương đã lớn đến mức chỉ cần nhìn thấy những cảnh vật quen thuộc là nhân vật trữ tình lại có cảm giác như được ở trên chính quê hương mình. Điều này cho thấy tình yêu to lớn của người con xa xứ với quê hương, đất nước. |