Lê Thanh Hải

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Thanh Hải
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

- Thuyền trưởng Nê-mô là một người tài giỏi, giàu tri thức:

+ Chi tiết "Thuyền trưởng Nê-mô vững bước giữa những đống đá ngổn ngang, ông ta rất thông thạo con đường này." cho thấy sự am hiểu sâu rộng về thế giới biển cả của thuyền trưởng Nê-mô.

+ Dưới góc nhìn của người kể chuyện, Nê-mô được khắc hoạ như một "vị thần biển" với vóc người cao lớn in trên ánh hồng. Hình ảnh này không chỉ thể hiện sự mạnh mẽ, oai nghiêm mà còn tạo nên vẻ bí ẩn và đặc biệt của nhân vật.

+ Nê-mô thông thạo từng ngóc ngách dưới đáy biển, dẫn mọi người vượt qua những địa hình hiểm trở như "sườn núi dốc đứng", "những khe núi sâu",... Qua đó, ta thấy được sự quả cảm và bản lĩnh của vị thuyền trưởng.

− Thuyền trưởng Nê-mô có bản lĩnh kiên định, thể hiện qua hành trình dẫn đường đầy hiểm nguy dưới đáy biển:

+ Chi tiết "Thuyền trưởng Nê-mô vững bước giữa những đống đá ngổn ngang, ông ta rất thông thạo con đường này." thể hiện bản lĩnh cùng kinh nghiệm dày dặn của thuyền trưởng Nê-mô.

+ Khi ánh sáng đèn pha tàu Nau-ti-lux dần mờ đi, không gian ngày càng tối và nguy hiểm, thuyền trưởng Nê-mô vẫn giữ phong thái bình tĩnh, khiến người đi sau "yên tâm đi theo Nê-mô". Chi tiết này thể hiện phẩm chất của một người thủ lĩnh vững vàng, luôn tạo niềm tin cho người khác.

Nhân vật thuyền trưởng Nê-mô được khắc hoạ như một con người đầy bản lĩnh, trí tuệ và bí ẩn, hiện thân cho khát vọng chinh phục đại dương, tự do khám phá thế giới.

Câu 2 (4,0 điểm).

Thành công của con người là kết quả của nhiều yếu tố. Trong đó, nhiều người tranh luận xem yếu tố may mắn hay nỗ lực của bản thân quan trọng hơn. Em đồng tình rằng nỗ lực của bản thân là yếu tố quan trọng hơn trong thành công.

Nỗ lực của bản thân là việc mỗi người cố gắng rèn luyện, học hỏi, kiên trì thực hiện mục tiêu, tự vượt qua khó khăn. May mắn là những cơ hội, hoàn cảnh thuận lợi, người khác hỗ trợ bất ngờ mà con người không chủ động tạo ra. Quan điểm nhắc nhở con người cần đánh giá đúng vai trò của các yếu tố trong thành công để biết cách phấn đấu và tận dụng cơ hội.

Nỗ lực giúp con người tích luỹ kiến thức, kỹ năng và rèn luyện ý chí, là nền tảng để đạt thành công. Không ai thành công chỉ nhờ may mắn mà không cố gắng. Các vận động viên, học sinh, nghệ sĩ… dù gặp may mắn hay có cơ hội, nếu không luyện tập, nỗ lực thì kết quả không bền vững.

Nỗ lực giúp con người chủ động vượt khó khăn, tự tạo cơ hội, không phụ thuộc vào hoàn cảnh hay may mắn. Người biết nỗ lực sẽ tận dụng mọi cơ hội, khắc phục thất bại, từ đó tăng khả năng thành công lâu dài. Các nhà khoa học, doanh nhân kiên trì nghiên cứu, thử nghiệm, dù thất bại nhiều lần vẫn đạt thành công.

Nỗ lực là yếu tố quan trọng hơn trong thành công. Mỗi người cần rèn luyện, kiên trì và tự tạo cơ hội, bởi chỉ khi chủ động cố gắng, con người mới phát triển được năng lực, vượt qua khó khăn và đạt thành công bền vững.

Câu 1.

Những hiện tượng lạ xuất hiện trong chuyến thám hiểm đáy biển là:

Đáy biển ngày càng nhiều đá.

Những con sò, các lớp giáp xác nhỏ li ti phát ra ánh sáng lân tinh yếu ớt.

Những đống đá được hàng triệu động vật giống như những bông hoa và tảo phủ kín.

Những xương khô.

Lửa cháy trong nước.

Một ánh hào quang trăng trắng phát ra từ phía sau ngọn núi cao hơn đáy biển hai trăm mét.

Câu 2. Số từ trong câu văn là "Một".

Câu 3.

Thuyền trưởng Nê-mô tự tin trong cuộc thám hiểm ở dưới đáy biển vì ông đã từng thám hiểm ở vị trí này, ông ta rất thông thạo con đường này. Nhờ sự tự tin đó, việc thám hiểm trở nên suôn sẻ hơn khi con đường vô cùng khó đi và nhiều chông gai. Nê-mô cũng trở thành điểm tựa cho nhân vật "tôi", trở thành người dẫn đường đáng tin cậy.

Câu 4.

Một số phẩm chất của Nê-mô:

− Dũng cảm, mạnh mẽ: Thể hiện ở chi tiết vóc người cao lớn, can đảm đi trước trong một rừng cây rậm rạp, một rừng cây chết.

− Đam mê khám phá: Thể hiện ở việc Thuyền trưởng Nê-mô vững bước giữa những đống đá ngổn ngang, ông ta rất thông thạo con đường này.

− Có ước mơ lớn lao: Thể hiện ở chi tiết Nê-mô hằng mơ ước gặp một thành phố xây dưới nước.

Câu 5. (1,0 điểm)

Theo em đó là việc quan trọng vì việc khám phá, thám hiểm những miền đất lạ giúp ta tìm kiếm những vùng đất mới, mở rộng đất nước; khám phá những điều mới mẻ để có thêm kiến thức phong phú về thế giới xung quanh...

Câu 1.

Heo là nhân vật ít nói, có vẻ thụ động nhưng không vô dụng. Trong cuộc đối thoại, khi bị gà hỏi, heo "không trả lời gà, cứ tiếp tục ăn", cho thấy heo rất khiêm tốn, không thích khoe khoang hay tranh công, dễ khiến người khác hiểu lầm về giá trị của mình. Heo biết tự ý thức và khẳng định vai trò của bản thân khi bị xúc phạm. Trước sự coi thường của gà, heo phản ứng dứt khoát và thẳng thắn: "Sao mi biết ta không giúp chủ? Thịt của ta để làm gì mi có biết không?", thể hiện sự tự tin và hiểu rõ giá trị của mình. Qua nhân vật heo, văn bản khẳng định mỗi con vật đều có ích theo một cách riêng. Dù không cày ruộng hay giữ nhà, song heo vẫn có giá trị thiết thực vì "thịt của nó rất được con người sính dùng trong giỗ chạp, tiệc tùng, cưới xin", góp phần gửi gắm bài học về cách nhìn nhận công bằng, toàn diện đối với sự vật và con người.

Câu 2.

Trong cuộc sống, mỗi người đều có nhu cầu được ghi nhận và tôn trọng. Tuy nhiên, nhiều người e ngại khen ngợi người khác vì sợ bản thân bị lép vế hoặc mất đi vị thế. Tôi tán thành với quan điểm "Khen ngợi người khác không làm mình kém đi" vì khen ngợi là hành động cao đẹp, thể hiện sự văn minh và biết trân trọng người khác.

"Khen ngợi người khác": là nhận ra và nói lời tốt về tài năng, phẩm chất, thành tích của người khác. "Không làm mình kém đi" là việc khen người khác không khiến giá trị bản thân bị giảm, trái lại còn tạo thiện cảm, mối quan hệ tốt. Câu nói nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng người khác, khích lệ và học hỏi, không sợ bản thân bị lép vế.

Khi biết khen ngợi, ta tạo ra môi trường hoà nhã, thân thiện, được mọi người quý mến và tôn trọng. Ví dụ, trong lớp học, khi khen một bạn học giỏi, không ai nghĩ bạn kém đi; ngược lại, bạn được các bạn yêu mến hơn. Hay trong công việc, lãnh đạo khen ngợi nhân viên xuất sắc sẽ tạo không khí làm việc tích cực, gắn kết đồng nghiệp.

Khi công nhận ưu điểm của người khác, ta vừa học hỏi, vừa rèn luyện bản thân để tốt hơn. Ví dụ, các nhà khoa học, nghệ sĩ thường chia sẻ, khen ngợi đồng nghiệp, nhờ đó họ vừa duy trì mối quan hệ tốt vừa tích cực học hỏi để nâng cao năng lực bản thân. Hay trong đời sống hằng ngày, khi thấy bạn bè chăm chỉ, sự khen ngợi sẽ khích lệ họ tiếp tục cố gắng, đồng thời bản thân ta cũng được truyền cảm hứng để tiến bộ.

Khen ngợi người khác không làm mình kém đi mà còn giúp xã hội văn minh và mỗi người ngày một hoàn thiện hơn. Mỗi người hãy mạnh dạn khen ngợi, biết trân trọng tài năng và phẩm chất của người khác, từ đó tạo ra môi trường sống tích cực, tốt đẹp.

Câu 1. Nhân vật chính trong truyện thuộc kiểu nhân vật loài vật

Nhân vật chính trong truyện thuộc kiểu nhân vật loài vật.

Câu 2 .

Liệt kê: "Trâu cày, ngựa cưỡi, gà gáy báo thức, chó sủa giữ nhà", "giỗ chạp, tiệc tùng, cưới xin".

Câu 3.

Đặc điểm của truyện ngụ ngôn được thể hiện trong văn bản:

− Nhân vật chính là loài vật, kiểu nhân vật phổ biến trong truyện ngụ ngôn.

− Câu chuyện có tính chất ngắn gọn, súc tích, tập trung vào một tình huống nhỏ nhưng gợi ý nghĩa lớn.

− Truyện chứa đựng bài học, triết lí nhân sinh: Mọi cá nhân, nếu phát huy đúng vai trò, chức năng thì đều có ích cho tập thể.

− Truyện có thời gian không xác định; không gian là nhà của chủ, nơi nuôi ba con vật.

Câu 4.

− Chủ đề: Mỗi cá nhân trong cộng đồng đều có giá trị riêng; nếu biết phát huy đúng chức năng, vai trò thì đều có ích cho cuộc sống chung.

− Căn cứ xác định:

+ Sự kiện chính: Cuộc tranh luận của gà, chó, heo về việc "ai có ích cho chủ".

+ Nhan đề của văn bản.

Câu 5 .

Khiêm tốn là không kiêu căng, biết nhìn nhận đúng khả năng của mình; trân trọng sự đóng góp của người khác là biết công nhận và đánh giá cao những việc làm hữu ích, dù lớn hay nhỏ. Khiêm tốn giúp con người sống hoà thuận, gắn bó; giúp bản thân có cơ hội học hỏi và tiến bộ hơn; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, được người khác yêu mến và tin tưởng;…

Một vị anh hùng tiêu biểu của thời kì phong kiến Việt Nam mà tôi vô cùng kính phục là Quang Trung – vị hoàng đế tài ba đã lãnh đạo nghĩa quân Tây Sơn đánh tan quân Thanh vào mùa xuân năm Kỉ Dậu 1789.

Mỗi khi đọc lại những trang sử về ông, tôi như được sống trong không khí hào hùng của những ngày cuối năm 1788. Khi ấy, lợi dụng tình hình rối ren trong nước, quân Thanh kéo sang xâm lược Thăng Long. Trước tình thế nguy cấp đó, Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung và lập tức tiến quân ra Bắc. Tôi hình dung cảnh đoàn quân Tây Sơn hành quân thần tốc giữa mùa đông giá rét: áo giáp sáng loáng, cờ đào phấp phới trong gió, tiếng trống thúc quân dồn dập suốt ngày đêm.

Điều khiến tôi khâm phục nhất là tài chỉ huy và ý chí quyết thắng của ông. Chỉ trong một thời gian ngắn, quân Tây Sơn đã vượt quãng đường dài từ Phú Xuân ra Bắc Hà. Đêm ba mươi Tết, khi mọi nơi còn chìm trong không khí chuẩn bị đón xuân, quân ta đã bất ngờ tấn công đồn Hà Hồi. Tiếp đó là trận đánh quyết liệt ở đồn Ngọc Hồi. Tôi tưởng tượng khói súng mù mịt, tiếng hò reo vang dậy, những tấm khiên rơm tẩm nước che chắn trước làn đạn của quân Thanh. Giữa làn khói lửa, hình ảnh người chỉ huy oai phong càng làm tôi thêm cảm phục.

Chỉ trong vòng vài ngày đầu xuân, quân Thanh hoàn toàn thất bại, tướng giặc phải tháo chạy về nước. Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đã bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc và khẳng định sức mạnh của nghĩa quân Tây Sơn.

Tìm hiểu về Quang Trung, tôi càng thêm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là biểu tượng của ý chí quật cường và tinh thần yêu nước. Hình ảnh người anh hùng áo vải cưỡi ngựa xông pha trận mạc sẽ mãi là nguồn cảm hứng để tôi cố gắng học tập và sống xứng đáng với lịch sử vẻ vang của cha ông.

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Trần Hưng Đạo là vị anh hùng kiệt xuất gắn liền với ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Trong đó, sự kiện khiến tôi ấn tượng sâu sắc nhất là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 – trận quyết chiến chiến lược đã chấm dứt hoàn toàn mộng xâm lược của kẻ thù.

Khi tìm hiểu về sự kiện này, tôi như được sống lại trong những ngày tháng hào hùng ấy. Năm 1288, quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào nước ta lần thứ ba. Trước thế giặc mạnh và hung hãn, Trần Hưng Đạo đã cùng triều đình nhà Trần thực hiện kế “vườn không nhà trống”, chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng. Tôi hình dung khắp các làng quê, nhà cửa vắng lặng, lương thực được cất giấu, thuyền bè rời bến. Không khí căng thẳng bao trùm, nhưng ẩn sau đó là sự quyết tâm và đồng lòng của cả dân tộc.

Sau nhiều tháng sa lầy vì thiếu lương thực, quân Nguyên buộc phải rút lui theo đường sông Bạch Đằng. Nắm rõ quy luật thủy triều nơi đây, Trần Hưng Đạo đã cho quân dân đóng những cọc gỗ lớn, đầu bịt sắt nhọn xuống lòng sông. Tôi tưởng tượng cảnh hàng nghìn cọc gỗ được vạt nhọn, bí mật cắm xuống bùn sâu khi nước triều dâng cao. Hai bên bờ sông, lau sậy um tùm che khuất quân mai phục. Tất cả được chuẩn bị kĩ lưỡng, chờ đúng thời cơ.

Ngày quyết chiến đã đến. Khi nước triều lên, thuyền giặc hùng hổ tiến vào cửa sông. Theo kế hoạch, quân ta dùng thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy, nhử địch tiến sâu vào trận địa. Tôi như nghe thấy tiếng sóng vỗ mạn thuyền, tiếng quân lính hò reo giữa khói lửa mịt mù. Đến khi thủy triều rút, những hàng cọc nhọn dần lộ ra, đâm thủng đáy thuyền giặc. Thuyền chiến của quân Nguyên mắc kẹt, nghiêng ngả giữa dòng nước đang rút mạnh. Từ hai bên bờ, quân ta đồng loạt xông ra tấn công. Tiếng trống trận vang dội, giáo mác sáng loáng dưới ánh chiều. Quân giặc hoảng loạn, nhiều tướng lĩnh bị bắt sống. Trận Bạch Đằng kết thúc với thắng lợi vang dội thuộc về quân dân Đại Việt.

Khi khép lại những trang sử ấy, tôi không khỏi xúc động và tự hào. Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 không chỉ thể hiện tài thao lược xuất chúng của Trần Hưng Đạo mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết và ý chí quật cường của dân tộc ta. Sự kiện lịch sử ấy mãi là niềm tự hào, nhắc nhở tôi phải biết trân trọng hòa bình và cố gắng học tập để xứng đáng với thế hệ cha ông.

Dưới đây là bài văn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu (ngôi kể thứ nhất, sự kiện có thật, kết hợp kể và miêu tả, bố cục rõ ràng):

Trong lịch sử dân tộc, Lý Thường Kiệt là vị tướng tài ba gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân Tống thế kỉ XI. Trong số những sự kiện tiêu biểu về ông, tôi ấn tượng nhất là việc ông chỉ huy quân dân ta chiến đấu và làm nên chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt năm 1077.

Tôi vẫn hình dung như mình đang có mặt bên bờ sông Như Nguyệt vào những ngày căng thẳng ấy. Trước mặt tôi là dòng sông rộng, nước chảy lững lờ nhưng ẩn chứa biết bao hiểm nguy. Theo sử sách ghi lại, khi quân Tống tràn sang xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt đã chủ động cho xây dựng một phòng tuyến kiên cố ở bờ nam sông. Ông cho đắp lũy đất cao, dựng rào tre dày đặc và bố trí quân lính ngày đêm canh giữ. Không khí nơi đây hẳn rất khẩn trương: tiếng quân sĩ luyện tập, tiếng búa đóng cọc, tiếng bàn bạc kế sách vang lên liên hồi.

Quân Tống đóng ở bờ bắc sông, nhiều lần tìm cách vượt sông tấn công. Tôi tưởng tượng những mũi tên bay vun vút trên không trung, tiếng trống trận dồn dập, mặt sông dậy sóng bởi thuyền bè qua lại. Thế nhưng, nhờ sự chỉ huy tài tình của Lý Thường Kiệt, quân ta vẫn giữ vững phòng tuyến. Điều khiến tôi khâm phục nhất là vào một đêm khuya, để khích lệ tinh thần binh sĩ, ông đã cho người ngâm vang bài thơ “Nam quốc sơn hà” trong đền thờ bên sông. Giữa không gian tĩnh lặng của đêm tối, tiếng ngâm thơ vang vọng, trang nghiêm và hào hùng. Lời thơ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của dân tộc như tiếp thêm sức mạnh cho quân sĩ. Tôi có thể cảm nhận được niềm tin và ý chí chiến đấu bừng lên trong lòng mỗi người lính.

Sau nhiều ngày giằng co, quân Tống rơi vào thế mệt mỏi và thiếu thốn lương thực. Nắm bắt thời cơ, Lý Thường Kiệt quyết định phản công. Quân ta vượt sông đánh úp, khiến quân giặc không kịp trở tay và buộc phải rút lui về nước. Chiến thắng ấy đã bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt.

Khi tìm hiểu về sự kiện này, tôi càng thêm tự hào và biết ơn thế hệ cha ông. Chiến thắng trên phòng tuyến Như Nguyệt không chỉ thể hiện tài năng quân sự xuất sắc của Lý Thường Kiệt mà còn cho thấy tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của dân tộc ta. Đó là một trang sử hào hùng mà mỗi người Việt Nam luôn ghi nhớ và trân trọng.

Thiết bị vào – ra trên điện thoại là Màn hình cảm ứng.

+ Thiết bị vào : Khi hạm, vuốt, gõ phím ảo trên màn hình, màn hình cảm ứng sẽ nhận các thao tác đó làm dữ liệu đầu vào và gửi đến bộ xử lý của điện thoại.

+ Thiết bị ra : Đồng thời, màn hình là nơi hiển thị thông tin, hình ảnh, video, giao diện ứng dụng từ điện thoại ra cho người dùng xem.

a) Màn hình máy tính: Thiết bị ra.

b) Tay cầm chơi game: Thiết bị vào.

c) Tai nghe có gắn micro: Thiết bị vừa vào vừa ra.

Thiết bị vào: máy ảnh, bàn phím, micro.

Thiết bị ra: màn hình, loa, máy in