Nguyễn Thị Phương Thúy
Giới thiệu về bản thân
Kì đầu: Nhiễm sắc thể (NST) kép bắt đầu co xoắn. Thoi phân bào bắt đầu hình thành, đồng thời màng nhân và nhân con dần tiêu biến. Kì giữa: NST co xoắn cực đại và tập trung thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào. Thoi phân bào đính vào hai bên tâm động của NST. Kì sau: Các NST kép tách nhau ở tâm động thành các NST đơn và được thoi phân bào kéo về hai cực của tế bào. Kì cuối: NST dãn xoắn dài ra dạng sợi mảnh. Thoi phân bào biến mất, màng nhân và nhân con xuất hiện trở lại bao quanh bộ NST ở mỗi cực.
Dưa, cà muối bảo quản được lâu nhờ quá trình lên men lactic tạo ra môi trường axit làm ức chế vi khuẩn gây thối.
a)bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội của loài là 2n=8 b)Tế bào sinh dục sơ khai là đực vì mỗi tế bào sau giảm phân tạo ra 4 giao tử.
Sau 3 ngày, số lượng tế bào thu được là 30×2¹¹⁴ tế bào. Đây là một con số cực kỳ lớn, phản ánh tốc độ sinh sản theo hàm mũ của vi khuẩn trong điều kiện lý tưởng.
Nguyên lý: Dựa trên tính toàn năng, khả năng phân chia và biệt hóa của tế bào. Nhân bản vô tính: Tạo ra cá thể mới từ tế bào sinh dưỡng (ví dụ: cừu Dolly). Y học: Liệu pháp tế bào gốc, nuôi cấy mô thay thế (da, giác mạc). Dược phẩm: Sản xuất vaccine, kháng thể và các chế phẩm sinh học.
Phơi héo rau: Nhằm làm giảm hàm lượng nước trong tế bào rau, giúp dưa khi muối sẽ giòn hơn và hạn chế tình trạng dưa bị khú (ủng). Cho thêm đường: Cung cấp nguồn dinh dưỡng ban đầu cho vi khuẩn lactic phát triển nhanh chóng, nhất là khi loại rau dùng để muối có hàm lượng đường thấp.Đổ nước ngập mặt rau và dùng vật nặng nén chặt:Tạo môi trường yếm khí (thiếu oxy) thuận lợi cho quá trình lên men lactic.Ức chế sự phát triển của các loại nấm mốc và vi khuẩn gây thối (vốn là những sinh vật ưa khí).Giúp nước muối ngấm đều vào rau, làm dưa có vị chua đồng nhất.
a. Tính số đợt nguyên phân của tế bào sinh dục sơ khai đã nguyên phân liên tiếp 8 đợt. b. Xác định bộ NST lưỡng bội của loài là 2n=16
a) Xác định kì và bộ nhiễm sắc thể Kì của quá trình phân bào: Tế bào đang ở kì giữa của quá trình nguyên phân.Các nhiễm sắc thể (NST) ở trạng thái kép và đang tập trung thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào. Bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (2n) : Trong hình có 4 NST kép đang xếp hàng, do đó bộ NST lưỡng bội của loài này là 2n=4 b) Tính số tế bào tham gia phân bào Có 24 tế bào đã tham gia vào quá trình phân bào này (với giả thiết mỗi tế bào nguyên phân 1 lần).
a) Đặc điểm nghiên cứu được của vi khuẩn Sử dụng phương pháp nhuộm Gram và quan sát dưới kính hiển vi, chúng ta có thể nghiên cứu được các đặc điểm sau: -Phân loại Gram: Xác định vi khuẩn là Gram dương hay Gram âm -Hình thái (Hình dạng): Quan sát được hình dạng đặc trưng của vi khuẩn như hình cầu (cầu khuẩn), hình que (trực khuẩn), hình xoắn (xoắn khuẩn),... -Cách sắp xếp: Quan sát được cách các tế bào vi khuẩn đứng đơn lẻ, thành đôi, thành chuỗi hay thành chùm. -Kích thước: Ước lượng được kích thước tương đối của tế bào vi khuẩn. b) Hình thức sinh sản của vi khuẩn Các hình thức sinh sản: Vi khuẩn chủ yếu sinh sản vô tính bằng hình thức phân đôi (fission). Một số ít có thể sinh sản bằng cách nảy chồi hoặc hình thành bào tử sinh sản (như ở xạ khuẩn). Xác định hình thức sinh sản: Phương pháp nhuộm Gram trên không thể xác định trực tiếp hình thức sinh sản của vi khuẩn một cách chính xác. Lý do: Đây là phương pháp nhuộm cố định (tế bào đã chết), chỉ giúp quan sát hình thái tại một thời điểm. Để nghiên cứu quá trình sinh sản, cần sử dụng các phương pháp nuôi cấy theo dõi thời gian hoặc quan sát trực tiếp sự phân chia dưới kính hiển vi điện tử/kính hiển vi tương phản pha đối với tế bào sống. Tuy nhiên, nếu thấy các tế bào đang trong quá trình thắt eo phân chia, ta có thể dự đoán đó là hình thức phân đôi.