Đỗ Thị Lệ Thành
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản trên. Thể thơ: Thất ngôn xen lục ngôn (thơ Nôm Đường luật). Giải thích: Bài thơ có 8 câu, đa số là 7 chữ nhưng có những câu chỉ có 6 chữ (như câu 2, 4, 6, 8). Đây là nét sáng tạo đặc trưng của Nguyễn Trãi. Câu 2: Chỉ ra một câu thành ngữ, tục ngữ được tác giả mượn ý trong văn bản. Tác giả đã sử dụng rất nhiều ý tứ từ ca dao, tục ngữ. Bạn có thể chọn một trong các ý sau: "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng" (được mượn ý cho câu cuối: "Đen gần mực, đỏ gần son"). "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài" (được mượn ý cho câu đầu: "Ở bầu thì dáng ắt nên tròn"). Câu 3: Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong dòng thơ cuối. Dòng thơ cuối: "Đen gần mực, đỏ gần son." Biện pháp tu từ: Đối (Đen đối với Đỏ, Mực đối với Son). Tác dụng: * Làm cho câu thơ cân đối, nhịp nhàng, dễ nhớ, dễ thuộc. Nhấn mạnh quy luật khách quan của đời sống: Môi trường sống có tác động cực kỳ mạnh mẽ đến việc hình thành nhân cách con người. Từ đó, lời răn dạy trở nên thuyết phục và sinh động hơn. Câu 4: Phát biểu đề tài, chủ đề của văn bản. Đề tài: Đạo đức, lối sống và cách ứng xử của con người trong xã hội. Chủ đề: Bài thơ nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường sống và những người ta kết giao. Qua đó, khuyên con người phải biết chọn môi trường tốt, chọn bạn mà chơi để giữ gìn nhân cách và hoàn thiện bản thân.
Câu 5
Biết chọn môi trường sống: Hãy tự đặt mình vào môi trường tích cực, lành mạnh vì hoàn cảnh xung quanh ảnh hưởng rất lớn đến tính cách của chúng ta. Chọn bạn mà chơi: Phải biết phân biệt người tốt, kẻ xấu, người khôn, kẻ dại để kết giao, học hỏi những điều hay và tránh xa những thói hư tật xấu. Tự chủ bản thân: Dù môi trường có ảnh hưởng lớn, nhưng bản thân mỗi người cần có bản lĩnh để không bị lôi kéo bởi cái xấu ("gần mực" nhưng không để bị "đen").