Hoàng Trung Hạ
Giới thiệu về bản thân
Nam Cao là nhà văn nhân đạo lỗi lạc của nền văn học hiện thực Việt Nam. Đề tài người nông dân trong sáng tác của ông luôn để lại những nỗi ám ảnh khôn nguôi về cái đói, cái nghèo nhưng trên hết là vẻ đẹp của nhân phẩm. Truyện ngắn "Lão Hạc" (1943) là một kiệt tác như thế. Qua hình tượng lão Hạc, người đọc không chỉ xót thương cho một số phận bi thảm mà còn trân trọng một tâm hồn trong sạch, giàu lòng tự trọng và tình yêu thương con sâu sắc.
Lão Hạc hiện thân cho nỗi khổ cực của người nông dân cũ. Vợ mất sớm, một mình lão nuôi con trong cảnh nghèo túng. Vì không đủ tiền cưới vợ, con trai lão phẫn chí bỏ đi làm đồn điền cao su, để lại lão thui thủi một mình cùng "cậu Vàng" làm bạn. Căn bệnh nặng cùng trận bão phá sạch hoa màu đã đẩy lão vào đường cùng. Lão sống trong sự cô đơn, đói khát và sự bủa vây của cái chết.Dù sống trong nghèo khổ, tình yêu con của lão Hạc vẫn sáng rực. Lão chắt chiu từng đồng tiền vườn, quyết không động vào một xu vì đó là vốn liếng để lại cho con. Phải nói tình yêu thương của lão dành cho con và Cậu Vàng vô cùng sâu sắc được thể hiện qua Cảnh lão Hạc báo tin bán chó cho ông Giáo là một đoạn văn đầy xúc động: "Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra... Lão mếu máo như con nít." Lão khóc vì thương con chó, nhưng sâu thẳm là nỗi dằn vặt của một lương tâm trong sạch khi thấy mình đã "đánh lừa một con chó".Điểm sáng nhất ở lão Hạc chính là lòng tự trọng vô ngần. Phải nói rằng Nam Cao đã rất thành công khi sử dụng ngôi kể thứ nhất (ông Giáo) giúp câu chuyện trở nên gần gũi, khách quan và giàu triết lý. Cách xây dựng tâm lý nhân vật tinh tế qua ngôn ngữ và ngoại hình đã làm nổi bật chiều sâu nhân bản của tác phẩm.
Khép lại trang sách, hình ảnh lão Hạc với gương mặt khắc khổ và cái chết dữ dội vẫn còn đọng lại trong tâm trí độc giả. Tác phẩm không chỉ là tiếng khóc xót thương cho thân phận người nông dân trong xã hội cũ mà còn là lời khẳng định đanh thép về nhân phẩm con người: "Sự nghèo đói có thể hủy hoại thể xác nhưng không thể làm hoen ố những tâm hồn cao thượng". Lão Hạc sẽ mãi là biểu tượng đẹp đẽ về lòng tự trọng và tình cha con trong văn học Việt Nam.
Trong bài thơ "Khi mùa mưa đến", cảm hứng của nhà thơ không đơn thuần là sự quan sát thiên nhiên mà là một sự giao thoa mãnh liệt giữa tâm hồn con người và nhịp điệu của vũ trụ. Đó là một nguồn cảm hứng vừa dạt dào, tươi mới, vừa mang chiều sâu suy tưởng về sự hồi sinh.Xuyên suốt bài thơ, ta cảm nhận được niềm tin yêu cuộc đời thiết tha. Nhà thơ dường như muốn nhắn nhủ rằng, sau mọi khô cằn sẽ luôn có những "cơn mưa" tưới mát, và sự sống sẽ luôn tìm cách để nảy mầm. Chính cái nhìn lạc quan và đầy nhân văn này đã tạo nên một sức hút riêng biệt, khiến bài thơ không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật mà còn chạm đến những rung cảm sâu xa trong lòng độc giả
Câu thơ "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ" thể hiện sự cống hiến, hy sinh âm thầm nhưng bền bỉ và tình yêu sâu nặng đối với quê hương, đất nước.
- Số mol CaO tạo thành là nCaO = 7.106 : 100 = 1,25.105 (mol)
⇒ \(n_{C a C O_{3}}\) = 1,25.107 (mol) ⇒ \(m_{C a C O_{3}}\)= 1,25.107 (g) = 12,5 (tấn)
Mà H = 90% ⇒ Khối lượng CaCO3 thực tế cần dùng là: 12,5\(\times\)100 : 90 = 13,89 (tấn).
⇒ Khối lượng quặng cần dùng là: 13,89 \(\times\) 100 : 80 = 17,36 (tấn)
Cu(OH)2 :Copper (II) hydroxide
N2O :Dinitrogen monoxide (hoặc Khí cười)
BaSO4 :Barium sulfate
H2S: Hydrogen sulfide
Cho hỗn hợp vào dung dịch silver nitrate (AgNO3) dư, đồng và nhôm phản ứng với dung dịch này giải phóng bạc theo các phương trình hóa học:
Cu + 2AgNO3 → Cu(NO3)2 + 2Ag
Al + 3AgNO3 → Al(NO3)3 + 3Ag
(1) 4P + 5O2 \(\underset{\rightarrow}{t^{o}}\) 2P2O5
(2) P2O5 + 3H2O → 2H3PO4
(3) H3PO4 + NaOH → Na3PO4 + H2O
(4) 2Na3PO4 + 3CaCl2 → 6NaCl + Ca3(PO4)2
Các xương ngón tay, ngón chân, bàn tay (hoặc bàn chân), cánh tay (hoặc đùi) … có thể còn rất nhiều đòn bẩy trong cơ thể em – Các khớp ngón tay, ngòn chân, khớp bàn tay, bàn chân; khớp khuỷu tay, khuỷu chân, khớp vai, khớp háng…là điểm tựa – Các vật nào đó tì vào ngón tay, ngón chân, bàn tay, bàn chân, cánh tay, đùi…là lực tác dụng của vật lên đòn bẩy – Các cơ bắp làm cho ngón tay, ngón chân, bàn tay, bàn chân, cánh tay, đùi…chuyển động tạo nên lực tác dụng của người.
Lực đẩy của nước tác dụng vào hai thỏi tính bằng công thức: F1 = d. V1; F2 = d.V2 (trong đó d là trọng lượng riêng của nước, V1 là thể tích của thỏi nhôm, V2 là thể tích của thỏi đồng). Vì hai thỏi có trọng lượng như nhau: P1 = P2 và trọng lượng riêng của đồng lớn hơn của nhôm d1 < d2 nên V1 > V2, do đó F1 > F2. Vậy cân sẽ không cân bằng nữa khi nhúng ngập cả hai thỏi đồng thời vào hai bình đựng nước.
Khối lượng của 2 lít nước: m = D.V = 1 000.0,002 = 2 kg. Khối lượng của 3 lít dầu hỏa: m = D.V = 800.0,003 = 2,4 kg.