Đào Hải An

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đào Hải An
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Làm đất tơi xốp, thoáng khí: Hướng trọng lực (giúp rễ đâm sâu) và hướng nguồn oxygen.

Tưới nước thường xuyên, giữ ẩm cho đất: Hướng nước.

Trồng xen canh nhiều loại cây trồng: Hướng sáng.

Làm giàn, cọc cho các cây thân leo: Hướng tiếp xúc.

Tăng cường ánh sáng nhân tạo: Hướng sáng.

a. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản mà một cá thể sinh ra một hoặc nhiều cá thể mới giống hệt mình, không có sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng. b. Phân biệt các hình thức sinh sản vô tính ở động vật: Phân đôi: Cơ thể mẹ tự co thắt ở giữa để chia thành hai phần giống nhau. Ví dụ: Trùng roi, trùng biến hình.Nảy chồi: Một phần cơ thể mẹ phát triển lồi ra rồi tách dần để tạo thành cá thể mới. Ví dụ: Thủy tức, san hô.Tái sinh: Cơ thể mới được hình thành từ một phần mảnh vụn của cơ thể mẹ. Ví dụ: Sao biển, giun dẹp.Trinh sản: Trứng không thụ tinh nhưng vẫn phát triển thành cá thể mới. Ví dụ: Ong, kiến, rệp.

Mô phân sinh đỉnh:

Vị trí: Nằm ở đỉnh rễ và các đỉnh chồi (ngọn thân, nách lá).

Vai trò: Giúp thân, cành và rễ tăng trưởng về chiều dài (sinh trưởng sơ cấp).

Mô phân sinh bên:

Vị trí: Nằm ở phần bao quanh thân và rễ (phía dưới vỏ).

Vai trò: Giúp thân và rễ tăng trưởng về chiều ngang hay đường kính (sinh trưởng thứ cấp).

Mô phân sinh đỉnh:

Vị trí: Nằm ở đỉnh rễ và các đỉnh chồi (ngọn thân, nách lá).

Vai trò: Giúp thân, cành và rễ tăng trưởng về chiều dài (sinh trưởng sơ cấp).

Mô phân sinh bên:

Vị trí: Nằm ở phần bao quanh thân và rễ (phía dưới vỏ).

Vai trò: Giúp thân và rễ tăng trưởng về chiều ngang hay đường kính (sinh trưởng thứ cấp).

Việc mang thai và sinh con ở động vật có vú có nhiều ưu điểm so với việc đẻ trứng ở các loài khác: Phôi thai được bảo vệ an toàn trong cơ thể mẹ, tránh được các tác động xấu từ môi trường bên ngoài và các loài ăn thịt.Phôi thai được cung cấp chất dinh dưỡng liên tục qua nhau thai từ cơ thể mẹ, giúp thai nhi phát triển ổn định và khỏe mạnh.Con non khi sinh ra được nuôi bằng sữa mẹ và được bố mẹ chăm sóc, bảo vệ, giúp tỉ lệ sống sót của con non cao hơn rất nhiều so với các loài đẻ trứng.

a: 1: Trứng 2: Ấu trùng (Bọ gậy) 3: Nhộng 4: Muỗi trưởng thành b: Nên tiêu diệt muỗi ở giai đoạn trứng, ấu trùng (bọ gậy) và nhộng là hiệu quả nhất. Lý do là vì ở các giai đoạn này chúng sống tập trung trong môi trường nước, dễ dàng bị tiêu diệt bằng các biện pháp đơn giản như thả cá, dọn dẹp các vật dụng chứa nước đọng. Việc tiêu diệt ở giai đoạn này giúp ngăn chặn chúng phát triển thành muỗi trưởng thành và đi truyền bệnh.

Cây Hai lá mầm có 2 loại mô phân sinh chính: Mô phân sinh đỉnh:

Vị trí: Nằm ở đầu rễ và các đỉnh chồi.

Tác dụng: Giúp thân và rễ tăng trưởng về chiều dài (sinh trưởng sơ cấp).

Mô phân sinh bên:

Vị trí: Nằm ở phần bao quanh thân và rễ.

Tác dụng: Giúp thân và rễ tăng trưởng về chiều ngang/đường kính (sinh trưởng thứ cấp).

Đây là hiện tượng cảm ứng ở thực vật. Vì cây gọng vó đã có phản ứng (uốn cong các lông tuyến và bài tiết acid formic) trước kích thích từ môi trường ngoài (sự tiếp xúc của con mồi) để duy trì sự sống. Cụ thể, đây là hình thức ứng động tiếp xúc ở thực vật.

Mạch gỗ: Hướng vận chuyển chủ yếu: Từ rễ lên thân và lá (chiều đi lên).Chất được vận chuyển: Nước và các ion khoáng. Mạch rây: Hướng vận chuyển chủ yếu: Từ lá đến các cơ quan như rễ, củ, quả (chiều đi xuống).Chất được vận chuyển: Các chất hữu cơ (chủ yếu là đường sucrose) và các chất dinh dưỡng khác.

Phần a: Vì tam giác ABC cân tại A nên góc ABC bằng góc ACB theo tính chất tam giác cân. Vì BQ là đường phân giác của góc ABC nên góc OBC bằng một nửa góc ABC. Vì CP là đường phân giác của góc ACB nên góc OCB bằng một nửa góc ACB. Do góc ABC bằng góc ACB nên góc OBC bằng góc OCB. Trong tam giác OBC, vì có hai góc ở đáy bằng nhau nên tam giác OBC là tam giác cân tại O. Phần b: Điểm O là giao điểm của hai đường phân giác BQ và CP của tam giác ABC. Theo tính chất ba đường phân giác của tam giác, ba đường này cùng đi qua một điểm và điểm đó cách đều ba cạnh của tam giác. Vì O là giao điểm của các đường phân giác nên điểm O cách đều ba cạnh AB, AC và BC của tam giác ABC. Phần c: Trong một tam giác, ba đường phân giác đồng quy tại một điểm nên AO cũng là đường phân giác thứ ba của tam giác ABC. Mặt khác, tam giác ABC là tam giác cân tại A nên đường phân giác xuất phát từ đỉnh A đồng thời cũng là đường trung trực của cạnh đáy. Do đó, đường thẳng AO chính là đường trung trực của đoạn thẳng BC. Điều này có nghĩa là đường thẳng AO đi qua trung điểm của đoạn thẳng BC và vuông góc với nó. Phần d: Xét tam giác BQC và tam giác CPB có cạnh BC là cạnh chung. Góc QBC bằng góc PCB vì mỗi góc bằng một nửa của hai góc bằng nhau là ABC và ACB. Góc BCQ bằng góc CBP vì tam giác ABC cân tại A. Do đó tam giác BQC bằng tam giác CPB theo trường hợp góc cạnh góc. Từ việc hai tam giác này bằng nhau, ta suy ra cạnh CP bằng cạnh BQ vì đây là hai cạnh tương ứng. Phần e: Vì tam giác BQC bằng tam giác CPB nên cạnh BQ bằng cạnh CP và cạnh CQ bằng cạnh BP. Ta có cạnh AB bằng cạnh AC vì tam giác ABC cân tại A. Khi lấy AB trừ đi BP và lấy AC trừ đi CQ, ta được đoạn thẳng AP bằng đoạn thẳng AQ. Xét tam giác APQ có hai cạnh AP và AQ bằng nhau nên tam giác APQ là tam giác cân tại A.