Tô Bảo Vân
Giới thiệu về bản thân
câu 1:
Con người chúng ta chỉ sống một lần duy nhất trên đời, hãy là những đóa hoa nở rộ, cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội bằng sự sáng tạo của mình. Sáng tạo là phát minh ra những thứ mới lạ giúp cho cuộc sống chúng ta trở nên thuận tiện, dễ dàng, hiện đại, tiện nghi hơn để thay thế cho những thứ có sẵn. Sự sáng tạo vô cùng quan trọng và cần thiết trong thời kì phát triển của xã hội hiện nay. Người có sự sáng tạo là những người luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi, phát minh ra những cái hay nhằm mục đích để cuộc sống luôn dễ dàng. Họ luôn muốn tìm ra cái mới để cải thiện những cái cũ, thậm chí là đi trước xu hướng của thời đại.Như giáo sư người Anh Sarah Gilbert trước mối hiểm họa của covid 19, bà đã nghiên cứu và chế tạo thành công vaccine AstraZeneca. Dù đã 59 tuổi nhưng bà luôn là người chăm chỉ làm việc, nghiên cứu từ 4 giờ sáng đến khi tối muộn. Nhờ vậy mà vaccine AstraZeneca được ra đời, hàng triệu người trên thế giới được cứu sống. Qua đó ta cũng thấy quá trình sáng tạo chưa bao giờ là đơn giản, chúng ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn, phải đánh đổi nhiều thứ, là thời gian, công sức, tiền bạc, thế nhưng sau tất cả, thành quả của những sáng tạo ấy lại thật ngọt ngào. Sự sáng tạo giúp con người làm được những điều tưởng như không thể, nó giúp con người vượt qua những khó khăn và rút ngắn được thời gian khi làm việc. Bên cạnh đó, sự sáng tạo khiến cho cuộc sống của con người trở nên tiện ích hơn, không chỉ giải quyết được những nhu cầu cần thiết mà còn khiến cho cuộc sống con người thêm thú vị hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn không ít người có tư duy, lối sống lạc hậu không chịu tiếp thu, sáng tạo để tiến bộ mà cứ ôm khư khư cách nghĩ của mình, những người này đáng bị xã hội phê phán, chỉ trích. Chúng ta được lựa chọn cách sống của mình để phát triển bản thân cũng như giúp ích cho xã hội, hãy sáng tạo trong công việc và cuộc sống để đạt hiệu quả cao nhất cũng như phát triển bản thân mình để trở thành phiên bản tốt nhất.
câu 2:
Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt.
Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng. Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.
Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm.
Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má". Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.
Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai" . Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?
Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô. Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó. Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.
Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười. Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũn...
câu 1:kiểu văn bản thông tin
câu 2:Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương thú vị:
Người mua bán di chuyển bằng xuồng, ghe, len lỏi trên sông.
Cách rao hàng bằng “cây bẹo”: treo trái cây, rau củ lên sào để khách nhìn từ xa.
Dùng âm thanh kèn (kèn tay, kèn cóc) để thu hút khách.
Tiếng rao của người bán hàng (chè, bánh, đồ ăn…) vang lên trên sông.
câu3:Tác dụng của việc sử dụng tên địa danh:
Làm cho thông tin cụ thể, xác thực, đáng tin cậy.
Giúp người đọc hình dung rõ hơn về phạm vi, sự phong phú của chợ nổi miền Tây.
Góp phần tăng tính thuyết phục và giá trị thực tế cho văn bản.
Câu 4.
Tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (cây bẹo, âm thanh kèn…):
Giúp việc mua bán thuận tiện, nhanh chóng trên sông nước.
Tạo nên nét độc đáo, đặc trưng riêng của chợ nổi.
Thu hút sự chú ý, tạo không khí sinh động, nhộn nhịp..
Câu 5. Suy nghĩ về vai trò của chợ nổi: Chợ nổi có vai trò rất quan trọng đối với đời sống người dân miền Tây. Đây không chỉ là nơi trao đổi, buôn bán hàng hóa, giúp người dân mưu sinh mà còn là một nét văn hóa đặc trưng của vùng sông nước. Chợ nổi phản ánh lối sống, sinh hoạt và sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên. Ngoài ra, chợ nổi còn góp phần thu hút du lịch, quảng bá hình ảnh miền Tây đến với nhiều người. Vì vậy, cần giữ gìn và phát huy nét văn hóa độc đáo này.o
Đoạn thơ trong “Phía sau làng” của Trương Trọng Nghĩa gợi lên nỗi hoài niệm xen lẫn xót xa trước sự đổi thay của làng quê trong nhịp sống hiện đại. Hình ảnh “tôi đi về phía tuổi thơ” không chỉ là hành trình trở về không gian quen thuộc mà còn là cuộc trở về trong ký ức, nơi lưu giữ những dấu chân bạn bè, những tháng ngày hồn nhiên đã mất. Sự ra đi của “những đứa bạn đã rời làng kiếm sống” cùng thực tế “đất không đủ cho sức trai cày ruộng” phản ánh nỗi lo sinh kế, sự biến động của đời sống nông thôn. Những giá trị văn hóa truyền thống cũng dần mai một: thiếu nữ không còn hát dân ca, không còn để tóc dài, lũy tre làng – biểu tượng của quê hương – cũng biến mất trước sự chen chúc của nhà cửa. Nghệ thuật của đoạn thơ giàu tính biểu cảm với giọng điệu trầm lắng, xót xa; hình ảnh gần gũi, giàu sức gợi; phép đối lập giữa quá khứ và hiện tại tạo nên chiều sâu cảm xúc. Qua đó, tác giả bộc lộ nỗi buồn man mác và niềm trăn trở trước sự đổi thay của quê hương.
câu 1: thể thơ tự do
Câu 2:Trong văn bản trên, “hạnh phúc” được miêu tả qua những tính từ: xanh; nắng dội, mưa tràn; thơm; im lặng; dịu dàng; vô tư; đầy vơi
Câu 3:Đoạn thơ cho thấy hạnh phúc không ồn ào, phô trương mà có thể rất lặng lẽ, tinh tế. Hạnh phúc giống như một quả chín thơm: không cần khoe sắc, chỉ cần tồn tại cũng đủ lan tỏa giá trị. Qua đó, tác giả nhắn nhủ con người hãy biết trân trọng những niềm vui nhỏ bé, bình dị trong cuộc sống
Câu 4:Biện pháp tu từ so sánh: hạnh phúc được so sánh với sóng vô tư trôi về biển cả
Tác dụng:
- Làm cho câu thơ thêm sinh động, gợi cảm, hấp dẫn hơn, tạo tính tò mò thích thú cho người đọc người nghe.
- Thể hiện hạnh phúc là trạng thái tự nhiên, nhẹ nhõm, không toan tính, đến và đi một cách thong dong.
- Qua đó thể hiện thái độ trân trọng ngợi ca, cùng tình yêu thiên nhiên, con người của tác giả. Từ đó muốn nhắn nhủ ta hãy sống thản nhiên, vô tư, biết đón nhận hạnh phúc một cách tự nhiên, không quá lo toan hay tính toán thiệt hơn.
Câu 5:Quan niệm về hạnh phúc của tác giả là giản dị, sâu sắc và mang tính nhân văn. Hạnh phúc không phải điều lớn lao hay vật chất, mà là những khoảnh khắc bình thường, tự nhiên trong cuộc sống.
câu 1
Bản sắc văn hoá dân tộc chính là "hồn cốt", là những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, hun đúc nên cốt cách và bản lĩnh của một quốc gia. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hoá lại càng trở nên cấp thiết và mang ý nghĩa sống còn. Khi thế giới trở nên "phẳng" và các nền văn hoá có sự giao thoa mạnh mẽ, nếu không giữ vững bản sắc, chúng ta rất dễ bị "hòa tan", đánh mất đi chính mình. Bản sắc dân tộc chính là "thẻ căn cước" để phân biệt dân tộc ta với các quốc gia khác, là "bộ lọc" thông minh giúp ta "hòa nhập mà không hòa tan". Khi có một nền tảng văn hoá vững chắc, ta mới đủ tự tin để tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm cho nền văn hoá của mình, đồng thời loại bỏ những yếu tố ngoại lai, độc hại. Hơn nữa, đây còn là nguồn sức mạnh mềm, là niềm tự hào, là sợi dây kết nối cộng đồng, tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn để đất nước phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá không chỉ là trách nhiệm của quá khứ mà còn là chìa khóa cho tương lai.
câu 2
Nghệ thuật sinh ra là để làm đẹp cho tâm hồn con người, và mỗi tác phẩm nghệ thuật chân chính đều mang trong mình một sức hấp dẫn riêng biệt, một thông điệp thẩm mỹ sâu sắc. Trong vô vàn những tác phẩm đã từng đi qua tâm trí, bài hát "Để Mị nói cho mà nghe" của ca sĩ Hoàng Thùy Linh và nhóm sáng tác DTAP đã để lại trong tôi một ấn tượng không thể phai mờ. Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ đến từ giai điệu bắt tai, mà còn ở cách "làm mới" những giá trị văn học truyền thống một cách đầy sáng tạo và nhân văn.
Ngay từ khi ra mắt, "Để Mị nói cho mà nghe" đã tạo nên một hiện tượng, và sức hút đầu tiên phải kể đến chính là âm nhạc. Bài hát là sự kết hợp hoàn hảo giữa thể loại Pop, World Music hiện đại với những âm hưởng dân gian đặc trưng của vùng núi Tây Bắc. Tiếng sáo, tiếng khèn được phối một cách nhịp nhàng trên nền nhạc điện tử sôi động, tạo nên một tổng thể vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Giai điệu bài hát cực kỳ bắt tai, thôi thúc người nghe phải nhún nhảy theo. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp tác phẩm tiếp cận nhanh chóng và mạnh mẽ đến giới trẻ, những người luôn tìm kiếm sự mới mẻ trong âm nhạc. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở âm nhạc, "Để Mị nói cho mà nghe" sẽ khó lòng tạo được sức sống lâu bền đến vậy. Giá trị lớn nhất và cũng là sức hấp dẫn cốt lõi của tác phẩm nằm ở phần nội dung và hình ảnh. Lấy cảm hứng từ nhân vật Mị trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài, bài hát không kể lại bi kịch của Mị, mà là "viết tiếp" một khao khát, một hành trình "giải phóng" cho Mị. Nhân vật Mị trong bài hát không còn cam chịu, thụ động nữa; cô đã dám cất lên tiếng nói của mình ("Để Mị nói cho mà nghe"), dám vứt bỏ những ràng buộc của hủ tục ("Bao nhiêu con trâu, con bò/ Đổi lại một bó mỡ, một con lợn/ Mị cũng không cần"), để được sống với khát khao tự do, được "đi chơi" trong đêm tình mùa xuân.
Không chỉ giải phóng cho Mị, video âm nhạc (MV) của bài hát còn xây dựng cả một "vũ trụ văn học" khi đưa vào hình ảnh của Lão Hạc, chị Dậu, Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ... Tất cả họ đều được "Mị" kéo ra khỏi số phận bi thảm của mình để cùng hòa vào một lễ hội của niềm vui và sự tự do. Đây là một góc nhìn vô cùng hiện đại và nhân văn. Nó không phủ nhận hiện thực tàn khốc mà các nhà văn đã miêu tả, nhưng nó cho thấy một tinh thần lạc quan, một khát vọng sống mãnh liệt của con người Việt Nam: dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn luôn hướng về ánh sáng.
Cuối cùng, sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" còn đến từ việc tôn vinh vẻ đẹp văn hoá Việt. Toàn bộ MV là một bức tranh rực rỡ sắc màu của thổ cẩm, của những điệu múa, những phiên chợ vùng cao. Tác phẩm đã thành công trong việc đưa chất liệu dân gian vào nghệ thuật đương đại, khiến văn hoá truyền thống trở nên gần gũi, "thời thượng" hơn trong mắt người trẻ. Nó chứng minh rằng, văn hoá dân tộc là một kho báu vô tận cho sáng tạo, chỉ cần chúng ta biết cách khai thác.
Sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" là sự cộng hưởng của giai điệu hiện đại, nội dung nhân văn và những giá trị văn hoá sâu sắc. Tác phẩm đã thành công khi vừa đáp ứng thị hiếu của công chúng, vừa thực hiện được sứ mệnh của nghệ thuật: khơi gợi những cảm xúc đẹp và lan toả niềm tự hào về văn hoá dân tộc.
câu 1
những dấu hiệu cho thấy văn bản là văn bản thông tin là:sử dụng ngôn ngữ khách quan, có cấu trúc rõ ràng tập trung vào việc cung cấp thông tin, số liệu, sự kiện có thật và thường được bổ sung bằng các yếu tố như hình ảnh, bảng biểu.
câu 2
văn bản trên viết về vấn đề:Văn bản viết về thành công của ca sĩ Đức Phúc tại Intervision 2025 và dùng sự kiện này làm dẫn chứng để bàn luận về một vấn đề lớn hơn: Vai trò và tầm quan trọng của việc khai thác các chất liệu di sản văn hoá truyền thống (bản sắc dân tộc) trong việc xây dựng thương hiệu âm nhạc Việt Nam (V-pop) và hội nhập quốc tế.
câu 3
Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh "Phần biểu diễn ấn tượng của ca sĩ Đức Phúc trên sân khấu Intervision 2025".
- Tác dụng:
+ Minh hoạ trực quan: Giúp người đọc hình dung rõ hơn về không khí, bối cảnh, và sự đầu tư dàn dựng trong phần biểu diễn được miêu tả trong văn bản (trang phục, sân khấu).
+ Tăng tính xác thực: Cung cấp bằng chứng thị giác, khẳng định sự kiện được đề cập là có thật.
+ Tăng sức hấp dẫn: Hình ảnh làm cho bài viết sinh động, thu hút sự chú ý của người đọc hơn là một văn bản chỉ có chữ.
+ Truyền tải thông tin: Bản thân hình ảnh đã truyền tải được sự "ấn tượng" và quy mô của tiết mục mà không cần dùng lời, hỗ trợ cho nội dung của văn bản.
câu4
Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung văn bản với nhan đề:
- Mối quan hệ giữa nhan đề "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập" và nội dung văn bản là mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung và làm rõ cho nhau.
- Nhan đề nêu lên luận điểm chính, hình ảnh ẩn dụ (chiếc chìa khoá vàng) cho một giải pháp để thành công trong việc hội nhập.
- Toàn bộ nội dung văn bản tập trung giải thích và chứng minh "chiếc chìa khoá vàng" đó chính là "chất liệu truyền thống" hay "bản sắc văn hoá dân tộc".
- Văn bản dùng thành công của Đức Phúc (với bài hát "Phù Đổng Thiên Vương" đậm chất văn hoá Việt) làm luận cứ thuyết phục để khẳng định rằng, khai thác di sản văn hoá chính là con đường đúng đắn (chiếc chìa khoá) để âm nhạc Việt Nam mở cánh cửa ra thế giới (hội nhập).