Nguyễn Đăng Nam 08/10/2009
Giới thiệu về bản thân
Trong thời đại công nghệ số và hội nhập quốc tế, tính sáng tạo đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của thế hệ trẻ. Trước hết, sáng tạo giúp người trẻ thích ứng nhanh với những thay đổi không ngừng của xã hội, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa. Không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu, sáng tạo còn là chìa khóa để các bạn trẻ tạo ra những giá trị mới, giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và hiệu quả trong học tập cũng như công việc. Nhờ có tư duy đột phá, nhiều bạn trẻ đã khởi nghiệp thành công, phát minh ra những sản phẩm hữu ích, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Hơn nữa, sáng tạo còn là phương tiện để thế hệ trẻ khẳng định bản thân, phát huy tiềm năng cá nhân và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Tuy nhiên, sáng tạo cần được nuôi dưỡng trên nền tảng tri thức vững vàng, đạo đức tốt đẹp và tinh thần dám nghĩ, dám làm. Vì vậy, mỗi bạn trẻ hãy không ngừng học hỏi, rèn luyện tư duy phản biện và dám thử nghiệm những điều mới mẻ, bởi đó chính là hành trang quan trọng nhất để bước vào tương lai.
Câu 2
Nguyễn Ngọc Tư được xem là một trong những cây bút xuất sắc nhất của văn học Nam Bộ đương đại. Với chất văn mộc mạc, giản dị mà thấm đượm nỗi niềm, chị đã chạm đến những góc khuất sâu thẳm nhất của con người nơi “rốn lũ” Đồng bằng sông Cửu Long. Truyện ngắn Biển người mênh mông (trích) không chỉ là câu chuyện về những số phận nhỏ bé, trôi nổi mà còn là bức tranh tinh tế về vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo. Bằng giọng văn nhẹ nhàng, thấm đượm chất suy tư, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa thành công những con người tuy nghèo khổ, lầm lũi nhưng giàu tình nghĩa và lòng vị tha.
Trước hết, nhân vật Phi hiện lên với một thân phận đầy bất hạnh. Phi sinh ra đã không có cha, năm tuổi rưỡi, mẹ cũng bỏ đi theo chồng, anh sống cùng bà ngoại. Đau đớn hơn, sau ngày giải phóng, ba về nhưng thay vì niềm vui đoàn tụ, ông lại nhìn Phi bằng ánh mắt “lạnh lẽo, chua chát, lại như giễu cợt, đắng cay” bởi nghi ngờ Phi là con của tên đồn trưởng. Lớn lên trong sự hắt hủi, tủi nhục, Phi trở thành người sống “lôi thôi”, “bầy hầy”. Thế nhưng, ẩn sâu bên ngoài luộm thuộm ấy là một tâm hồn nhạy cảm và giàu lòng tự trọng. Hồi nhỏ, dù bị bà ngoại cằn nhằn vì để tóc “xấp xãi, hệt du côn”, Phi vẫn lẳng lặng cầm tiền đi cắt. Khi lớn lên, anh vừa học vừa làm thêm để tự nuôi sống bản thân. Đặc biệt, Phi còn là người rất có tình với bà ngoại – người duy nhất thương yêu anh, và sau này với ông Sáu Đèo – người hàng xóm nghèo khổ. Khi ông Sáu Đèo gửi lại con bìm bịp (con “quỷ sứ”, “trời vật”) trước lúc ra đi tìm vợ, Phi đã nhận lời mà không hề do dự. Từ một người bị cả xã hội ruồng bỏ, Phi vẫn giữ được tấm lòng nhân hậu, biết tin tưởng và được tin tưởng. Đó chính là vẻ đẹp của người dân Nam Bộ: dù cuộc đời có vùi dập đến đâu, họ vẫn giữ được sự chất phác, thật thà và lòng tốt ở tận đáy sâu tâm hồn.
Bên cạnh Phi, nhân vật ông Sáu Đèo lại là hiện thân của tình nghĩa thủy chung và nỗi day dứt khôn nguôi. Ông là một lão nông nghèo, cả đời “toàn sống trên sông” với chiếc ghe, hai vợ chồng lang thang xứ này xứ nọ. Vì cuộc sống khổ quá, vì những lời nặng nhẹ trong cơn say, bà Sáu gái đã bỏ đi. Và rồi, ông già Sáu Đèo đã dành gần bốn mươi năm cuộc đời để đi tìm bà. Ông “dời nhà cả thảy ba mươi ba bận”, “lội gần rã cặp giò” chỉ với một mong muốn giản dị nhưng da diết: “Kiếm để làm gì hả? Để xin lỗi chớ làm gì bây giờ”. Câu nói ấy đã chạm đến trái tim người đọc bởi nó quá đỗi chân thành và đau đáu một nỗi ăn năn. Ông Sáu Đèo không chỉ giàu tình nghĩa với vợ mà còn rất quan tâm đến những người xung quanh. Ông là người duy nhất (sau bà ngoại) nhắc nhở Phi về chuyện tóc tai, ăn mặc. Trước khi lên đường tìm vợ, ông đã tổ chức một bữa rượu từ giã Phi và gửi lại con bìm bịp – tài sản quý giá duy nhất – cho anh. Hành động ấy thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối và tấm lòng bao dung của một người từng trải, thấu hiểu nỗi cô đơn của một đứa trẻ bị bỏ rơi như Phi. Như vậy, qua ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa đậm nét vẻ đẹp của người dân Nam Bộ: sống hết mình vì tình nghĩa, dám đối diện với lỗi lầm và luôn sẵn sàng dang rộng vòng tay với những mảnh đời bất hạnh.
Thành công của Nguyễn Ngọc Tư trong việc xây dựng hai nhân vật này còn đến từ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Những từ ngữ như “bầy hầy”, “bểu”, “rót” (rót), “qua”, “cổ”, “tía”… không chỉ tạo nên màu sắc địa phương chân thực mà còn góp phần khắc họa tính cách nhân vật một cách sinh động. Giọng văn của chị nhẹ nhàng, thủ thỉ như lời kể chuyện, thấm đượm một nỗi buồn man mác nhưng không hề bi lụy, để lại trong lòng người đọc nhiều dư vị suy tư. Chính chất giọng ấy đã làm nổi bật chủ đề của tác phẩm: niềm tin vào lòng tốt, sự bao dung giữa một “biển người mênh mông” còn lắm trái ngang, nghiệt ngã.
Tóm lại, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư đã phác họa một cách chân thực và cảm động những phẩm chất tốt đẹp của con người Nam Bộ: chất phác, thật thà, giàu tình nghĩa, thủy chung, sống có trách nhiệm và sẵn sàng bao dung với những số phận bất hạnh. Dù cuộc đời có trôi nổi, nghèo khó và lắm nỗi đau, họ vẫn giữ được trái tim nhân hậu, vẫn kiên trì đi tìm những giá trị tốt đẹp (ông Sáu Đèo tìm vợ để xin lỗi, Phi tìm một chỗ dựa tinh thần). Biển người mênh mông không chỉ là câu chuyện về thân phận con người mà còn là một bài ca về tình người ấm áp giữa dòng đời rộng lớn, để lại trong lòng người đọc sự trân trọng và niềm tin vào những điều tốt đẹp vẫn luôn tồn tại.
Trong thời đại công nghệ số và hội nhập quốc tế, tính sáng tạo đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của thế hệ trẻ. Trước hết, sáng tạo giúp người trẻ thích ứng nhanh với những thay đổi không ngừng của xã hội, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa. Không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu, sáng tạo còn là chìa khóa để các bạn trẻ tạo ra những giá trị mới, giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và hiệu quả trong học tập cũng như công việc. Nhờ có tư duy đột phá, nhiều bạn trẻ đã khởi nghiệp thành công, phát minh ra những sản phẩm hữu ích, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Hơn nữa, sáng tạo còn là phương tiện để thế hệ trẻ khẳng định bản thân, phát huy tiềm năng cá nhân và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Tuy nhiên, sáng tạo cần được nuôi dưỡng trên nền tảng tri thức vững vàng, đạo đức tốt đẹp và tinh thần dám nghĩ, dám làm. Vì vậy, mỗi bạn trẻ hãy không ngừng học hỏi, rèn luyện tư duy phản biện và dám thử nghiệm những điều mới mẻ, bởi đó chính là hành trang quan trọng nhất để bước vào tương lai.
Câu 2
Nguyễn Ngọc Tư được xem là một trong những cây bút xuất sắc nhất của văn học Nam Bộ đương đại. Với chất văn mộc mạc, giản dị mà thấm đượm nỗi niềm, chị đã chạm đến những góc khuất sâu thẳm nhất của con người nơi “rốn lũ” Đồng bằng sông Cửu Long. Truyện ngắn Biển người mênh mông (trích) không chỉ là câu chuyện về những số phận nhỏ bé, trôi nổi mà còn là bức tranh tinh tế về vẻ đẹp tâm hồn của người dân Nam Bộ qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo. Bằng giọng văn nhẹ nhàng, thấm đượm chất suy tư, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa thành công những con người tuy nghèo khổ, lầm lũi nhưng giàu tình nghĩa và lòng vị tha.
Trước hết, nhân vật Phi hiện lên với một thân phận đầy bất hạnh. Phi sinh ra đã không có cha, năm tuổi rưỡi, mẹ cũng bỏ đi theo chồng, anh sống cùng bà ngoại. Đau đớn hơn, sau ngày giải phóng, ba về nhưng thay vì niềm vui đoàn tụ, ông lại nhìn Phi bằng ánh mắt “lạnh lẽo, chua chát, lại như giễu cợt, đắng cay” bởi nghi ngờ Phi là con của tên đồn trưởng. Lớn lên trong sự hắt hủi, tủi nhục, Phi trở thành người sống “lôi thôi”, “bầy hầy”. Thế nhưng, ẩn sâu bên ngoài luộm thuộm ấy là một tâm hồn nhạy cảm và giàu lòng tự trọng. Hồi nhỏ, dù bị bà ngoại cằn nhằn vì để tóc “xấp xãi, hệt du côn”, Phi vẫn lẳng lặng cầm tiền đi cắt. Khi lớn lên, anh vừa học vừa làm thêm để tự nuôi sống bản thân. Đặc biệt, Phi còn là người rất có tình với bà ngoại – người duy nhất thương yêu anh, và sau này với ông Sáu Đèo – người hàng xóm nghèo khổ. Khi ông Sáu Đèo gửi lại con bìm bịp (con “quỷ sứ”, “trời vật”) trước lúc ra đi tìm vợ, Phi đã nhận lời mà không hề do dự. Từ một người bị cả xã hội ruồng bỏ, Phi vẫn giữ được tấm lòng nhân hậu, biết tin tưởng và được tin tưởng. Đó chính là vẻ đẹp của người dân Nam Bộ: dù cuộc đời có vùi dập đến đâu, họ vẫn giữ được sự chất phác, thật thà và lòng tốt ở tận đáy sâu tâm hồn.
Bên cạnh Phi, nhân vật ông Sáu Đèo lại là hiện thân của tình nghĩa thủy chung và nỗi day dứt khôn nguôi. Ông là một lão nông nghèo, cả đời “toàn sống trên sông” với chiếc ghe, hai vợ chồng lang thang xứ này xứ nọ. Vì cuộc sống khổ quá, vì những lời nặng nhẹ trong cơn say, bà Sáu gái đã bỏ đi. Và rồi, ông già Sáu Đèo đã dành gần bốn mươi năm cuộc đời để đi tìm bà. Ông “dời nhà cả thảy ba mươi ba bận”, “lội gần rã cặp giò” chỉ với một mong muốn giản dị nhưng da diết: “Kiếm để làm gì hả? Để xin lỗi chớ làm gì bây giờ”. Câu nói ấy đã chạm đến trái tim người đọc bởi nó quá đỗi chân thành và đau đáu một nỗi ăn năn. Ông Sáu Đèo không chỉ giàu tình nghĩa với vợ mà còn rất quan tâm đến những người xung quanh. Ông là người duy nhất (sau bà ngoại) nhắc nhở Phi về chuyện tóc tai, ăn mặc. Trước khi lên đường tìm vợ, ông đã tổ chức một bữa rượu từ giã Phi và gửi lại con bìm bịp – tài sản quý giá duy nhất – cho anh. Hành động ấy thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối và tấm lòng bao dung của một người từng trải, thấu hiểu nỗi cô đơn của một đứa trẻ bị bỏ rơi như Phi. Như vậy, qua ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa đậm nét vẻ đẹp của người dân Nam Bộ: sống hết mình vì tình nghĩa, dám đối diện với lỗi lầm và luôn sẵn sàng dang rộng vòng tay với những mảnh đời bất hạnh.
Thành công của Nguyễn Ngọc Tư trong việc xây dựng hai nhân vật này còn đến từ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ. Những từ ngữ như “bầy hầy”, “bểu”, “rót” (rót), “qua”, “cổ”, “tía”… không chỉ tạo nên màu sắc địa phương chân thực mà còn góp phần khắc họa tính cách nhân vật một cách sinh động. Giọng văn của chị nhẹ nhàng, thủ thỉ như lời kể chuyện, thấm đượm một nỗi buồn man mác nhưng không hề bi lụy, để lại trong lòng người đọc nhiều dư vị suy tư. Chính chất giọng ấy đã làm nổi bật chủ đề của tác phẩm: niềm tin vào lòng tốt, sự bao dung giữa một “biển người mênh mông” còn lắm trái ngang, nghiệt ngã.
Tóm lại, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư đã phác họa một cách chân thực và cảm động những phẩm chất tốt đẹp của con người Nam Bộ: chất phác, thật thà, giàu tình nghĩa, thủy chung, sống có trách nhiệm và sẵn sàng bao dung với những số phận bất hạnh. Dù cuộc đời có trôi nổi, nghèo khó và lắm nỗi đau, họ vẫn giữ được trái tim nhân hậu, vẫn kiên trì đi tìm những giá trị tốt đẹp (ông Sáu Đèo tìm vợ để xin lỗi, Phi tìm một chỗ dựa tinh thần). Biển người mênh mông không chỉ là câu chuyện về thân phận con người mà còn là một bài ca về tình người ấm áp giữa dòng đời rộng lớn, để lại trong lòng người đọc sự trân trọng và niềm tin vào những điều tốt đẹp vẫn luôn tồn tại.
---
Câu 1: (2,0 điểm) Đoạn văn khoảng 200 chữ
Đề bài: Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của bản sắc văn hoá dân tộc đối với đất nước ta trong thời kì hội nhập.
Bài làm tham khảo:
Trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, bản sắc văn hóa dân tộc chính là "hộ chiếu" để Việt Nam tự tin bước ra thế giới. Trước hết, bản sắc văn hóa là cội nguồn sức mạnh tinh thần, là điểm tựa vững chắc giúp chúng ta giữ vững lập trường, không bị hòa tan hoặc "chảy máu chất xám" văn hóa. Khi ta biết rõ mình là ai, đến từ đâu, ta sẽ có đủ bản lĩnh để tiếp thu tinh hoa nhân loại một cách chọn lọc và sáng tạo. Thứ hai, trong "ngôi làng toàn cầu", chính bản sắc độc đáo lại là lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ nhất. Từ ẩm thực, trang phục áo dài, di sản như Nhã nhạc cung đình Huế đến các làng nghề thủ công truyền thống... đều trở thành những tài sản vô giá thu hút du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước và phát triển kinh tế. Cuối cùng, việc gìn giữ bản sắc không có nghĩa là đóng cửa, mà là một quá trình "giao thoa" tích cực, làm giàu có thêm cho văn hóa dân tộc bằng những giá trị mới. Vì vậy, mỗi công dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần ý thức sâu sắc việc học hỏi, trân trọng và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, biến nó thành sức mạnh nội sinh để Việt Nam không chỉ hội nhập mà còn tỏa sáng trên bản đồ thế giới.
---
Câu 2: (4,0 điểm) Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ
Đề bài: Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận về sức hấp dẫn của một tác phẩm nghệ thuật (bức tranh, bức tượng, bộ phím, bài hát,…) mà em yêu thích.
Bài làm tham khảo:
Đề tài: Sức hấp dẫn của ca khúc "Dáng đứng Việt Nam" (Nhạc và lời: Nguyễn Chí Vũ). Nghệ thuật chân chính là những gì còn đọng lại trong tâm trí người thưởng thức lâu sau khi tác phẩm kết thúc. Trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, có những ca khúc đã vượt qua ranh giới của một bài hát thông thường để trở thành một biểu tượng, một pho sử thi bằng âm thanh. "Dáng đứng Việt Nam" của nhạc sĩ Nguyễn Chí Vũ là một tác phẩm như thế. Sức hấp dẫn của nó không chỉ đến từ giai điệu hào hùng mà còn từ sức mạnh lay động tâm hồn, khắc họa chân dung bất tử về người lính trong chiến tranh.
Trước tiên, sức hấp dẫn của bài hát đến từ sự kết hợp hoàn hảo giữa chất nhạc và chất thơ trong lời ca. Giai điệu mở đầu trang nghiêm, dồn dập như những bước chân ra trận, rồi chuyển sang phần trữ tình sâu lắng khi miêu tả hình ảnh người chiến sĩ, và cuối cùng vút cao, hùng tráng ở khúc khải hoàn. Lời ca không đơn thuần là lời hát, mà là những vần thơ đầy hình tượng và sức gợi: "Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất / Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng". Hình ảnh "gượng đứng lên" ấy là một điểm nhấn thiên tài, biến cái chết bi thương thành một tư thế bất tử, hiên ngang. Đó không phải là dáng đứng của sự sống sinh học, mà là dáng đứng của ý chí, của khí phách Việt Nam được tạc vào lịch sử.
Thứ hai, sức hấp dẫn nằm ở khả năng khái quát và điển hình hóa hình tượng nghệ thuật. Người lính trong bài hát không còn là một cá nhân cụ thể, mà đã trở thành biểu tượng cho cả một thế hệ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Tác giả đã rất tinh tế khi xây dựng hình tượng người lính gắn với những địa danh lịch sử: Tân Sơn Nhất, Đồng Lộc, Thành Cổ Quảng Trị, Kon Tum. Mỗi địa danh ấy như một chương sử bi tráng, làm nền cho "dáng đứng" kia trở nên vĩ đại và thiêng liêng hơn. Bài hát không chỉ kể một câu chuyện, mà nó dựng lên một tượng đài tập thể bằng âm nhạc, khiến bất kỳ ai nghe cũng thấy được sự hy sinh thầm lặng và cao cả của cha anh. Cuối cùng, và có lẽ là sâu sắc nhất, sức hấp dẫn của "Dáng đứng Việt Nam" đến từ giá trị nhân văn sâu sắc và sức sống vượt thời gian. Bài hát ra đời trong chiến tranh nhưng không hề mang hơi thở của hận thù hay bạo lực. Ngược lại, nó ngợi ca vẻ đẹp của sự hy sinh, của lý tưởng sống vì Tổ quốc. Nó trả lời cho câu hỏi muôn đời: "Vì sao một dân tộc nhỏ bé có thể chiến thắng những kẻ thù hùng mạnh?". Câu trả lời nằm ở "dáng đứng" ấy - dáng đứng của những con người biết đứng lên vì nghĩa lớn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Chính vì thế, hơn bốn thập kỷ đã trôi qua, mỗi khi giai điệu ấy vang lên trong các ngày lễ trọng đại, nó vẫn khiến hàng triệu trái tim người Việt xúc động, tự hào. Nó trở thành cầu nối tâm linh giữa các thế hệ, nhắc nhở người sống phải biết trân trọng, ghi nhớ công ơn của những người đã ngã xuống.
Tóm lại, sức hấp dẫn của "Dáng đứng Việt Nam" là sự kết tinh của tài năng nghệ thuật, tình yêu đất nước và lòng biết ơn sâu sắc. Nó chứng minh rằng, một tác phẩm nghệ thuật thực sự có sức sống khi nó chạm được vào những giá trị phổ quát nhất của con người: lòng yêu nước, sự dũng cảm và tinh thần bất tử. Bài hát ấy mãi mãi là một khúc tráng ca, nuôi dưỡng tâm hồn Việt và khẳng định: "Dáng đứng Việt Nam" - tạc vào thế kỷ / Hình tượng đứng yên và tiếng thét hiên ngang.
Câu 1: Những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bản thông tin
- Cung cấp thông tin sự kiện cụ thể: Văn bản đề cập đến sự kiện Intervision 2025, ca sĩ Đức Phúc giành chiến thắng, bài hát "Phù Đổng Thiên Vương", nguồn gốc cảm hứng từ bài thơ "Tre Việt Nam" và truyền thuyết "Thánh Gióng".
- Trích dẫn nguồn tin: Cuối văn bản có ghi rõ nguồn (Theo Hà Anh, https://baoquocte.vn/...).
- Sử dụng ngôn ngữ khách quan, trung lập: Văn bản trình bày sự việc một cách rõ ràng, không bày tỏ cảm xúc cá nhân.
- Cấu trúc logic, rõ ràng: Văn bản được chia thành các đoạn với nội dung mạch lạc, từ thông tin sự kiện đến phân tích, bình luận.
Câu 2: Văn bản trên viết về vấn đề gì?
Văn bản viết về thành công của ca sĩ Đức Phúc tại Intervision 2025 với ca khúc "Phù Đổng Thiên Vương" và qua đó khẳng định việc khai thác chất liệu văn hóa truyền thống chính là chìa khóa để âm nhạc Việt Nam hội nhập quốc tế, đồng thời nêu lên những thách thức và định hướng cho sự phát triển của âm nhạc Việt trên trường quốc tế.
Câu 3: Chỉ ra và phân tích tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản
- Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng: Dấu gạch ngang (–) trong cụm từ "Đức Phúc – một trong những gương mặt trẻ nổi bật của nhạc Việt".
- Tác dụng: Dấu gạch ngang này có tác dụng chú thích, giải thích thêm về ca sĩ Đức Phúc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về vị trí của anh trong nền âm nhạc Việt Nam, từ đó làm nổi bật hơn ý nghĩa của chiến thắng.
Câu 4: Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung văn bản với nhan đề "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập"
- Nhan đề "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập" chính là luận điểm cốt lõi mà toàn bộ văn bản hướng tới.
- Nội dung văn bản đã chứng minh, làm sáng tỏ và phát triển luận điểm đó một cách rõ ràng và thuyết phục:
- Bằng chứng trực tiếp: Thành công của Đức Phúc với "Phù Đổng Thiên Vương" – một tác phẩm khai thác chất liệu truyền thống (thơ "Tre Việt Nam", truyền thuyết Thánh Gióng, nón lá, hình ảnh cây tre...) – chính là minh chứng sống động cho "chiếc chìa khóa vàng" đó.
- Mở rộng và khẳng định: Văn bản còn chỉ ra đây không phải là hiện tượng cá biệt (nhắc đến Hòa Minzy) và so sánh với các ví dụ quốc tế (BTS, âm nhạc Latinh) để khẳng định tính đúng đắn của con đường này.
- Phân tích sâu: Văn bản nhấn mạnh sức mạnh của "kho báu truyền thống" (dân ca, nhạc cụ, trang phục...) và cách để biến nó thành "chìa khóa" chính là sự sáng tạo, kết hợp tinh thần truyền thống với hình thức hiện đại.
=> Mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung là mối quan hệ nhân - quả, luận điểm - dẫn chứng, rất chặt chẽ và logic.
Câu 5:
a. Những thông tin và nhận thức bổ ích mà văn bản mang lại:
- Thông tin:
- Ca sĩ Đức Phúc đã giành chiến thắng tại Intervision 2025 với ca khúc "Phù Đổng Thiên Vương".
- Bài hát lấy cảm hứng từ văn hóa truyền thống Việt Nam (thơ "Tre Việt Nam", truyền thuyết Thánh Gióng).
- Thủ tướng Chính phủ đã gửi thư chúc mừng và đánh giá cao ý nghĩa của ca khúc.
- Nhận thức:
- Giá trị của văn hóa truyền thống: Di sản văn hóa dân tộc (truyền thuyết, thơ ca, âm nhạc dân gian, nhạc cụ...) không phải là thứ lỗi thời mà là một "mỏ vàng", một "chiếc chìa khóa vàng" để hội nhập quốc tế một cách có bản sắc.
- Bài học về sự sáng tạo: Để thành công, không phải chỉ sao chép xu hướng quốc tế, mà cần biết kết hợp khéo léo tinh hoa truyền thống với ngôn ngữ và hình thức nghệ thuật hiện đại.
- Góc nhìn thực tế: Hội nhập là một chặng đường dài, đòi hỏi sự đầu tư bài bản từ đào tạo nghệ sĩ, sáng tác đến chiến lược truyền thông, chứ không thể chỉ dựa vào một vài thành công đơn lẻ.
b. 3 việc em có thể làm để góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kì hội nhập:
- Chủ động tìm hiểu và chia sẻ về văn hóa truyền thống: Em có thể đọc sách, xem phim tài liệu, tham quan bảo tàng để hiểu thêm về các lễ hội, truyền thuyết, làn điệu dân ca, trang phục truyền thống... và chia sẻ những điều thú vị đó với bạn bè, gia đình hoặc trên các nền tảng mạng xã hội một cách sáng tạo.
- Ủng hộ và quảng bá các sản phẩm văn hóa đương đại mang đậm bản sắc dân tộc: Em có thể nghe nhạc, xem MV, ủng hộ các nghệ sĩ, nhà thiết kế, các bộ phim... biết cách đưa chất liệu văn hóa Việt vào tác phẩm một cách tinh tế và sáng tạo.
- Giữ gìn và phát huy những nét đẹp văn hóa trong đời sống hàng ngày: Em có thể học cách mặc áo dài một cách tự hào trong những dịp lễ, Tết; học nấu một vài món ăn truyền thống của gia đình, địa phương; hoặc tham gia các câu lạc bộ, hoạt động tình nguyện bảo tồn di sản văn hóa tại nơi mình sinh sống.