Trịnh Minh Phú
Giới thiệu về bản thân
Bài thơ “Chiều xuân ở thôn Trường Mại” gợi cho ta thấy vẻ đẹp bình dị của làng quê và cuộc sống hòa hợp giữa con người với thiên nhiên. Sống hòa hợp với thiên nhiên giúp con người cảm nhận được sự bình yên, thư thái và niềm vui giản dị trong lao động. Khi con người biết yêu quý, chăm sóc cây cối, ruộng đồng, thiên nhiên sẽ ban lại cho họ sự trù phú, ấm no. Thiên nhiên không chỉ nuôi sống con người mà còn nuôi dưỡng tâm hồn, giúp ta thêm yêu cuộc sống, yêu quê hương. Vì thế, mỗi người cần trân trọng, bảo vệ và sống chan hòa với thiên nhiên để cuộc sống luôn tươi đẹp và hạnh phúc hơn.
🌾 1. Cảnh vật mùa xuân tươi mới, tràn sức sống:
Tác giả vẽ nên một buổi chiều xuân có “mưa phùn xâm xẩm bay” – nét đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ khi vào xuân. Những hình ảnh “mía cạnh giậu tre đang nảy ngọn”, “khoai trong đám cỏ đã xanh cây” gợi cảm giác đất trời đang hồi sinh, cây cối đâm chồi nảy lộc.
👩🌾 2. Thiên nhiên hòa cùng nhịp sống lao động:
Giữa khung cảnh thiên nhiên ấy, con người hiện lên chăm chỉ và gắn bó với ruộng đồng:
- “Mặc manh áo ngắn giục trâu cày”
- “Nàng dâu sớm đã gieo dưa đó”
- “Bà lão chiều còn xới đậu đây”
Những hình ảnh này làm cho bức tranh thiên nhiên không tĩnh lặng mà chan hòa sức sống, hơi thở lao động cần mẫn của người nông dân.
🌸 3. Không khí thanh bình, vui tươi và ấm áp:
Không có sự vất vả cực nhọc, mà trái lại, người dân làm việc trong niềm vui, niềm hứng khởi:
“Điền viên nghĩ thật nguồn vui thú”
Câu thơ cuối “Dẫu chẳng ‘hành môn’ đói cũng khuây” thể hiện tâm hồn thanh thản, lạc quan — cuộc sống tuy giản dị nhưng đủ đầy niềm vui và tình quê.
➡️ Tổng kết:
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ là một bức họa mùa xuân ở nông thôn Việt Nam tràn đầy sức sống, đậm chất dân dã, trong đó thiên nhiên và con người hòa quyện hài hòa, thể hiện tình yêu quê hương, niềm vui lao động và tinh thần lạc quan của người dân thôn quê.
Đổi: 10 min = 1/6h; 30 min = 1/2h.
Đoạn đường bằng dài: 60 * 1/6 = 10 (km)
Tốc độ khi đi lên dốc của ô tô là: 60 : 2 = 30 (km/h)
Đoạn đường lên dốc dài: 30 * 1/2 = 15 (km)
Tốc độ khi đi xuống dốc của ô tô là: 60 * 1,5 = 90 (km/h)
Đoạn đường xuống dốc dài: 90 * 1/6 = 15 (km)
Độ dài cung đường trên là: 10 + 15 + 15 = 40 (km)
a) (Đã vẽ trên giấy)
Miêu tả: Lấy điểm H và K trên gương sao cho AH và BK đều vuông góc với gương.
Lấy các điểm A'; B' lần lượt thuộc các tia AH và BK sao cho AH = A'H; BK = B'K; A' khác A và B' khác B.
Tính chất của ảnh tạo bởi gương phẳng:
- Ảnh là ảnh ảo, không hứng được trên màn.
- Ảnh của vật trong gương to bằng vật.
- Ảnh của vật trong gương cách gương một khoảng cách bằng khoảng cách giữa vật và gương.
b) Góc tạo bởi ảnh của vật và mặt gương là 30o
a) Biên độ sóng âm càng lớn thì âm càng to, còn biên độ sóng âm càng nhỏ thì âm càng nhỏ.
b) Tần số của âm càng lớn thì âm càng cao, còn tần số của âm càng nhỏ thì âm càng thấp.
Ví dụ: Các phím bấm trong đàn piano dao động tại tần số khác nhau nên độ cao của âm khi ta bấm mỗi phím là khác nhau.
Nguyên tử khối của phân đạm urea (CO(NH2)2) là: 12 + 16 + (14 + 1 * 2)* 2 = 60 (amu)
=> Nguyên tố nitrogen chiếm 14 * 2 : 60 * 100% = 46,6% trong phân đạm urea (CO(NH2)2)
Nguyên tử khối của phân đạm ammonium nitrate (NH4NO3) là: 14 + 1 * 4 + 14 + 16 * 3 = 80 (amu)
=> Nguyên tố nitrogen chiếm 14 * 2 : 80 * 100% = 35% trong phân đạm ammonium nitrate (NH4NO3)
=> Phân đạm urea (CO(NH2)2) chứa nhiều nitrogen hơn phân đạm ammonium nitrate (NH4NO3)
=> Bác nông dân nên chọn phân đạm urea (CO(NH2)2)
Sodium chloride (NaCl) là hợp chất tạo bởi liên kết ion nên nhiệt độ nóng chảy của nó sẽ cao.
Chlorine (Cl2) là hợp chất tạo bởi liên kết cộng hóa trị nên nhiệt độ nóng chảy của nó sẽ thấp.
=> Nhiệt độ nóng chảy của Sodium chloride (NaCl) cao hơn nhiệt độ nóng chảy của Chlorine (Cl2).
Nguyên tố fluorine nằm ở ô thứ 9; chu kì 2; nhóm VIIA trong bảng tuần hoàn.
Đây là nguyên tó phi kim.
Hydrogen: H
Nitrogen: N
Sodium: Na
Argon: Ar
a) (Đã vẽ trên giấy)
Người đó đi 20 km với tốc độ 40 km/h trong 20 : 40 = 1/2 giờ.
Người đó đi 120 km với tốc độ 60 km/h trong 120 : 60 = 2 giờ.
Miêu tả đồ thị quãng đường - thời gian:
- Ta chia trục hoành thành 6 phần, mỗi phần biểu thị khoảng cách 1,2 giờ.
- Ta chia trục tung thành 7 phần, mỗi phần biểu thị khoảng cách 20 km.
- Trong 1/2 giờ đầu tiên, ô tô đã đi được 20 km.
- Sau đó khoảng cách ô tô đã đi được sẽ giữ nguyên trong vòng 1,2 giờ nữa.
- Trong 2 giờ cuối cùng, ô tô đã đi được hết 120 km với tốc độ không đổi (đường thẳng tắp).
b) Tổng quãng đường dài 120 + 20 = 140 km
Người đó đi trong 1/2 + 1/2 + 2 = 3 giờ
Tốc độ trung bình của người đó xuyên suốt quãng đường là 140 : 3 = 140/3 km/h.