𓃱⋆⭒˚.⋆🪐ºҩº☞†®üñɕ-đẹρ-†®åî⋆⭒˚.⋆
Giới thiệu về bản thân
Tham khảo
Chúng ta sẽ giải từng câu một nhé:
a) \(\frac{15}{56} - \frac{6}{7}\)
Để trừ các phân số, trước tiên ta phải quy đồng mẫu số. Mẫu số của \(\frac{6}{7}\) là 7, trong khi mẫu số của \(\frac{15}{56}\) là 56. Ta cần quy đồng mẫu số của 7 và 56.
Mẫu số chung nhỏ nhất của 7 và 56 là 56. Ta chuyển \(\frac{6}{7}\) về mẫu số 56:
\(\frac{6}{7} = \frac{6 \times 8}{7 \times 8} = \frac{48}{56}\)
Bây giờ ta thực hiện phép trừ:
\(\frac{15}{56} - \frac{48}{56} = \frac{15 - 48}{56} = \frac{- 33}{56}\)
Kết quả: \(\frac{- 33}{56}\)
b) \(\frac{4}{9} - \frac{5}{7}\)
Tương tự, ta sẽ quy đồng mẫu số của \(\frac{4}{9}\) và \(\frac{5}{7}\). Mẫu số của 9 và 7 là 63 (vì \(9 \times 7 = 63\)).
Chuyển các phân số về mẫu số chung 63:
\(\frac{4}{9} = \frac{4 \times 7}{9 \times 7} = \frac{28}{63}\)\(\frac{5}{7} = \frac{5 \times 9}{7 \times 9} = \frac{45}{63}\)
Bây giờ ta thực hiện phép trừ:
\(\frac{28}{63} - \frac{45}{63} = \frac{28 - 45}{63} = \frac{- 17}{63}\)
Kết quả: \(\frac{- 17}{63}\)
d) \(\frac{6}{5} \times 3\)
Để nhân phân số với một số tự nhiên, ta viết 3 dưới dạng phân số \(\frac{3}{1}\) và thực hiện phép nhân:
\(\frac{6}{5} \times 3 = \frac{6}{5} \times \frac{3}{1} = \frac{6 \times 3}{5 \times 1} = \frac{18}{5}\)
Kết quả: \(\frac{18}{5}\)
Tóm tắt kết quả:
- a) \(\frac{15}{56} - \frac{6}{7} = \frac{- 33}{56}\)
- b) \(\frac{4}{9} - \frac{5}{7} = \frac{- 17}{63}\)
- d) \(\frac{6}{5} \times 3 = \frac{18}{5}\)
Tham khảo
Bài toán:
Mảnh vườn hình chữ nhật có chu vi là 32m. Nếu bớt chiều dài 14m, mảnh vườn trở thành hình vuông. Tính diện tích mảnh vườn.
Bước 1: Chu vi của mảnh vườn
Mảnh vườn là hình chữ nhật, và chu vi của hình chữ nhật được tính theo công thức:
\(\text{Chu}\&\text{nbsp};\text{vi} = 2 \times \left(\right. \text{chi} \overset{ˋ}{\hat{\text{e}}} \text{u}\&\text{nbsp};\text{d} \overset{ˋ}{\text{a}} \text{i} + \text{chi} \overset{ˋ}{\hat{\text{e}}} \text{u}\&\text{nbsp};\text{r}ộ\text{ng} \left.\right)\)
Ta biết chu vi mảnh vườn là 32m, nên ta có:
\(32 = 2 \times \left(\right. l + w \left.\right)\)
Ở đây, \(l\) là chiều dài và \(w\) là chiều rộng của mảnh vườn. Để tìm tổng chiều dài và chiều rộng, ta chia chu vi cho 2:
\(l + w = \frac{32}{2} = 16\)
Vậy chiều dài cộng chiều rộng của mảnh vườn là 16m.
Bước 2: Mảnh vườn trở thành hình vuông
Khi bớt chiều dài 14m, mảnh vườn trở thành hình vuông. Điều này có nghĩa là sau khi bớt chiều dài 14m, chiều dài mới bằng chiều rộng của mảnh vườn.
Vậy ta có phương trình:
\(l - 14 = w\)
Bước 3: Giải phương trình
Bây giờ, ta có hệ phương trình:
- \(l + w = 16\)
- \(l - 14 = w\)
Từ phương trình (2), ta thay \(w\) vào phương trình (1):
\(l + \left(\right. l - 14 \left.\right) = 16\)\(2 l - 14 = 16\)\(2 l = 16 + 14\)\(2 l = 30\)\(l = \frac{30}{2} = 15\)
Vậy chiều dài \(l\) là 15m.
Bước 4: Tính chiều rộng
Ta đã có \(l = 15\), bây giờ thay vào phương trình \(l + w = 16\):
\(15 + w = 16\)\(w = 16 - 15 = 1\)
Vậy chiều rộng \(w\) là 1m.
Bước 5: Tính diện tích mảnh vườn
Diện tích của mảnh vườn là:
\(\text{Di}ệ\text{n}\&\text{nbsp};\text{t} \overset{ˊ}{\imath} \text{ch} = l \times w = 15 \times 1 = 15 \textrm{ } \text{m}^{2}\)
Kết luận:
Diện tích mảnh vườn là 15 m².
Tham khảo
Chúng ta sẽ giải từng câu một.
Câu 1: Tính bằng cách thuận tiện nhất
a) \(2024.33 + 2024 + 4048.33\)
Để tính biểu thức này, ta nhóm lại các số tương tự để tính dễ dàng hơn:
\(2024.33 + 2024 + 4048.33 = \left(\right. 2024 + 2024 \left.\right) + \left(\right. 4048.33 + 0.33 \left.\right)\)
Tính từng phần:
- \(2024 + 2024 = 4048\)
- \(4048.33 + 0.33 = 4048.66\)
Vậy ta có:
\(4048 + 4048.66 = 8096.66\)
Kết quả: \(8096.66\)
b) \(\frac{8.1}{6} + 8 + \frac{2}{6} + \frac{8.3}{6}\)
Ta sẽ tính các phần riêng biệt.
\(\frac{8.1}{6} = 1.35 , \frac{2}{6} = 0.3333 , \frac{8.3}{6} = 1.3833\)
Vậy biểu thức trở thành:
\(1.35 + 8 + 0.3333 + 1.3833\)
Cộng lại:
\(1.35 + 0.3333 + 1.3833 = 3.0666\)\(3.0666 + 8 = 11.0666\)
Kết quả: \(11.0666\) (hoặc \(11.07\) làm tròn đến 2 chữ số thập phân)
Tóm tắt kết quả:
- a) \(2024.33 + 2024 + 4048.33 = 8096.66\)
- b) \(\frac{8.1}{6} + 8 + \frac{2}{6} + \frac{8.3}{6} = 11.07\)
Tham khảo
Hai khổ thơ trong bài "Quê hương" của Nguyễn Bính thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả đối với mảnh đất quê hương, đồng thời ca ngợi những phẩm chất đặc biệt của con người nơi đây.
Khổ thơ đầu tiên gợi ra hình ảnh một quê hương gắn liền với những âm thanh của làn điệu dân ca, là nơi mà trong "bụng mẹ" đã biết mê tiếng hát. Đây là một hình ảnh đầy chất thơ, cho thấy sự hòa quyện giữa con người và quê hương, nơi mà truyền thống văn hóa, đặc biệt là văn học, đã ăn sâu vào tiềm thức từ những ngày đầu đời. Tiếng hát quê hương không chỉ là biểu tượng của sự ấm áp, yêu thương mà còn phản ánh bản sắc dân tộc trong mỗi con người nơi đây.
Khổ thơ thứ hai chuyển hướng, thể hiện tinh thần yêu nước, đấu tranh bảo vệ quê hương. Những "tre làng" trở thành "ngọn mác, mũi chông", tượng trưng cho sự kiên cường của con người khi đối mặt với kẻ thù. Các trai gái thôn Đông, xóm Bắc “thoắt vươn vai thành anh hùng", khẳng định tinh thần bất khuất và sức mạnh đoàn kết của nhân dân trong những giờ phút khó khăn.
Như vậy, qua hai khổ thơ, tác giả Nguyễn Bính đã khắc họa vẻ đẹp của quê hương trong cả khía cạnh văn hóa lẫn tinh thần chiến đấu kiên cường.
Tham khảo
Giai đoạn 1930-1945 là một thời kỳ quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, trong đó Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) đã trải qua nhiều thử thách và thay đổi. Quá trình nắm bắt thời cơ của Đảng trong giai đoạn này có thể được nhìn nhận qua những sự kiện, chiến lược và quyết định quan trọng, đặc biệt trong việc thích ứng với tình hình chính trị, xã hội và quốc tế. Để làm rõ, ta có thể phân tích qua các giai đoạn và chiến lược khác nhau.
1. Ra đời và giai đoạn 1930-1935: Thành lập Đảng và đối mặt với khó khăn
- Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập. Đây là bước ngoặt quan trọng trong phong trào cách mạng ở Việt Nam, vì Đảng đã có sự lãnh đạo chặt chẽ và thống nhất, khác biệt với các phong trào cách mạng trước đó.
- Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản đứng trước nhiều khó khăn lớn, bao gồm sự đàn áp của thực dân Pháp, sự thiếu thốn về lực lượng, và sự chia rẽ giữa các phái trong phong trào. Tuy nhiên, Đảng đã biết tận dụng những điều kiện thuận lợi để phát triển. Một trong những điểm mạnh là việc Đảng nhanh chóng đưa ra được Chương trình hành động cụ thể, đặc biệt là "Luận cương chính trị" của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), nhấn mạnh mục tiêu độc lập dân tộc và giải phóng giai cấp.
- Giai đoạn này, Đảng đã phải đối mặt với sự đàn áp mạnh mẽ của thực dân Pháp, nhưng đã có bước đi khôn ngoan khi tổ chức những cuộc đấu tranh nhỏ lẻ để duy trì sự liên kết trong quần chúng. Đặc biệt, Đảng cũng biết lợi dụng những vấn đề xã hội, như khủng hoảng kinh tế năm 1929-1930, để thúc đẩy phong trào đấu tranh trong công nhân, nông dân và các tầng lớp xã hội khác.
2. Giai đoạn 1936-1939: Thời kỳ Mặt trận Bình dân và nắm bắt thời cơ
- Năm 1936, Đảng Cộng sản Đông Dương đã điều chỉnh chiến lược khi Pháp đưa ra chính sách "Mặt trận Bình dân" (Front Populaire), với sự gia tăng những phong trào đấu tranh đòi quyền lợi cho công nhân và nông dân. Đây là thời điểm thuận lợi để Đảng có thể kết hợp với các lực lượng khác (như tư sản, tiểu tư sản, và tầng lớp trung lưu) để đẩy mạnh các hoạt động chính trị.
- Sự thay đổi chiến lược: Đảng quyết định không đối đầu trực diện với thực dân Pháp mà chuyển sang một chiến lược vận động rộng rãi hơn, thông qua việc hình thành các tổ chức chính trị hợp pháp, như Mặt trận Dân tộc thống nhất, để huy động sự ủng hộ của các tầng lớp xã hội.
- Trong giai đoạn này, Đảng đã tận dụng thời cơ từ các cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân để phát động những cuộc biểu tình, đả kích các chính sách của thực dân. Tuy nhiên, khi Mặt trận Bình dân tại Pháp tan rã vào cuối năm 1939, Đảng lại phải đối mặt với sự thách thức mới.
3. Giai đoạn 1939-1945: Chiến tranh thế giới thứ hai và cuộc khởi nghĩa giành chính quyền
- Thế chiến thứ hai và sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân: Từ năm 1939, khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, tình hình quốc tế có sự thay đổi lớn. Pháp bị chiếm đóng bởi Đức, tạo ra một tình huống chính trị mới. Đây là thời cơ quan trọng mà Đảng Cộng sản Đông Dương tận dụng để đẩy mạnh cuộc đấu tranh giành độc lập.
- Chuyển từ đấu tranh chính trị sang khởi nghĩa vũ trang: Khi chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra, thực dân Pháp và quân đội Nhật Bản đều bị suy yếu. Đảng nhận thấy đây là cơ hội để phát động một cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Chủ trương “giải phóng dân tộc” của Đảng được cụ thể hóa thông qua việc phát động Mặt trận Việt Minh vào năm 1941, thu hút được sự ủng hộ của các lực lượng dân tộc, trong đó có các lực lượng yêu nước và các tổ chức cách mạng.
- Cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945: Sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh vào tháng 8 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh đã phát động tổng khởi nghĩa, đánh chiếm các cơ quan chính quyền ở nhiều tỉnh thành, dẫn đến việc giành chính quyền trong cả nước vào ngày 19 tháng 8 năm 1945. Đây là thời cơ quyết định mà Đảng đã nắm bắt và chớp lấy, chuyển từ một phong trào cách mạng không vũ trang thành một cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi.
4. Những yếu tố giúp Đảng nắm bắt thời cơ
- Sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh là người sáng suốt trong việc nắm bắt thời cơ và thay đổi chiến lược. Ông hiểu rõ tình hình quốc tế và trong nước, từ đó đưa ra những quyết định kịp thời, phù hợp với từng giai đoạn.
- Chiến lược linh hoạt: Đảng Cộng sản đã biết cách thay đổi chiến lược khi cần thiết, từ đấu tranh chính trị, kết hợp với các lực lượng dân tộc, đến chuyển sang khởi nghĩa vũ trang khi thời cơ đến.
- Sự ủng hộ của quần chúng: Đảng đã xây dựng được lực lượng quần chúng mạnh mẽ, từ công nhân, nông dân đến các trí thức yêu nước. Việc Đảng chú trọng đến quyền lợi của các tầng lớp nhân dân giúp nâng cao tính chính đáng và sự ủng hộ của quần chúng trong các cuộc đấu tranh.
- Điều kiện quốc tế: Sự suy yếu của thực dân Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai, sự sụp đổ của các đế quốc và sự ảnh hưởng của cách mạng Nga đã tạo ra cơ hội lớn cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa.
Kết luận
Quá trình nắm bắt thời cơ của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1930-1945 là một quá trình thay đổi chiến lược liên tục, từ đấu tranh chính trị, đến tổ chức phong trào quần chúng, và cuối cùng là chuyển sang khởi nghĩa vũ trang. Đảng đã linh hoạt tận dụng những cơ hội lịch sử, đặc biệt là sự suy yếu của các thế lực thực dân và chiến tranh thế giới thứ hai, để giành được chính quyền vào năm 1945.