Phạm Hiền Dịu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Trong bài thơ Thổn thức gió đồng, nhân vật “tôi” hiện lên với dòng cảm xúc da diết và sâu lắng. Như nhà phê bình Hoài Thanh từng khẳng định: “Thơ là tiếng nói của trái tim”, vì thế diễn biến tâm trạng của “tôi” chính là linh hồn của tác phẩm. Ban đầu, “tôi” lắng nghe tiếng gió đồng như nghe nhịp thở của quê hương, cảm xúc khẽ khàng, bâng khuâng. Gió không chỉ là yếu tố thiên nhiên mà còn là chiếc cầu nối đánh thức miền kí ức tuổi thơ, làm dâng lên nỗi nhớ tha thiết. Từ nỗi nhớ ấy, tâm trạng chuyển sang thổn thức – một trạng thái rung động mãnh liệt, pha chút xót xa và trăn trở trước sự đổi thay của quê nhà. “Tôi” vừa yêu thương, tự hào, vừa day dứt khi nhận ra những điều thân thuộc đang dần xa vắng. Diễn biến tâm trạng ấy vận động tự nhiên từ lắng nghe đến nhớ thương, từ xúc động đến suy tư, qua đó thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng và tâm hồn nhạy cảm của nhân vật trữ tình.
Câu 2:
Nhà văn Maksim Gorky từng nói: “Văn học là nhân học”. Con người, vì thế, luôn là trung tâm của mọi giá trị xã hội, và văn hóa ứng xử chính là thước đo rõ nét nhất của nhân cách. Trong dịp kỉ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/04/1975 – 30/04/2025), bên cạnh niềm tự hào dân tộc thiêng liêng, vẫn còn xuất hiện những hành vi ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng. Điều đó đặt ra vấn đề đáng suy ngẫm về văn hóa ứng xử của thế hệ trẻ hiện nay. Văn hóa ứng xử nơi công cộng là cách mỗi người thể hiện thái độ, lời nói và hành vi của mình trong không gian chung như trường học, đường phố, khu di tích, lễ hội… Đó có thể là việc xếp hàng trật tự, giữ gìn vệ sinh, nói năng lịch sự, tôn trọng người khác. Với người trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – văn hóa ứng xử không chỉ thể hiện ý thức cá nhân mà còn góp phần xây dựng hình ảnh quốc gia văn minh. Thực tế cho thấy nhiều bạn trẻ có ý thức tốt: tình nguyện viên hỗ trợ du khách trong các dịp lễ lớn, học sinh nhặt rác sau sự kiện, các bạn trẻ lan tỏa thông điệp tích cực trên mạng xã hội. Những hành động ấy thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng tự hào dân tộc sâu sắc. Tuy nhiên, vẫn còn không ít trường hợp chen lấn, xô đẩy, nói tục, vẽ bậy lên di tích hay phát ngôn thiếu chuẩn mực trên không gian mạng. Những hành vi ấy không chỉ làm xấu đi hình ảnh cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng, làm giảm đi ý nghĩa thiêng liêng của các sự kiện lịch sử. Nguyên nhân của thực trạng này có thể xuất phát từ ý thức cá nhân chưa cao, sự thiếu quan tâm trong giáo dục gia đình, hoặc tâm lí a dua theo đám đông. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội đôi khi khiến một bộ phận người trẻ đề cao “cái tôi” quá mức, dễ hành động bốc đồng mà quên đi chuẩn mực chung. Theo tôi, để xây dựng văn hóa ứng xử đẹp, mỗi bạn trẻ cần bắt đầu từ những điều nhỏ nhất: nói lời cảm ơn, xin lỗi đúng lúc; tuân thủ quy định nơi công cộng; biết kiềm chế cảm xúc cá nhân. Gia đình và nhà trường cũng cần tăng cường giáo dục kĩ năng sống, nuôi dưỡng lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm. Quan trọng hơn, mỗi người phải ý thức rằng mình đang đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam – một thế hệ năng động nhưng cũng cần bản lĩnh và văn minh. Kỉ niệm 30/4 không chỉ là dịp để tri ân quá khứ hào hùng mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc. Văn hóa ứng xử nơi công cộng, vì thế, không phải điều gì xa vời mà chính là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước trong đời sống hôm nay.
Câu 1.
Dấu hiệu xác định ngôi kể: Văn bản có nhân vật xưng “tôi” và quan sát, kể lại mọi sự việc từ góc nhìn của “tôi”.Ngôi kể: ngôi thứ nhất.
Câu 2: Các chi tiết cho thấy sự thay đổi của làng quê: Người làng từ chỗ chỉ biết cấy lúa, trồng rau → nay đi làm thợ xây, làm thuê cho dự án. Cuộc sống bớt lam lũ, cơ cực hơn. Làng xuất hiện tiếng còi xe, nhạc băng ầm ĩ thay cho lời hát ru xưa. Những ngôi nhà khang trang, không khí khác trước nhiều.
Câu 3.Biện pháp tu từ: điệp cấu trúc “Tháng năm có thể khiến… Nhưng tháng năm lại khiến…”.
Tác dụng:
+làm cho câu văn trở nên sinh động hấp dẫn làm tăng sức gợi hình gợi tả tăng sức biểu đạt cho câu văn.
+ giúp nhấn mạnh sự đối lập giữa mặt tiêu cực (tiều tụy, yếu mòn) và mặt tíchcực (can trường, bền bỉ) mà thời gian mang lại cho con người.
+Qua đó, làm nổi bật quy luật: nỗi đau, thử thách có thể khiến thân xác hao mòn, nhưng ý chí tinh thần lại được tôi luyện kiên cường.
Câu 4.
Sự phù hợp của điểm nhìn trần thuật: Câu chuyện được nhìn từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” – một người trong cuộc, gần gũi với mẹ và dì Lam. Nhờ điểm nhìn này, sự trở về của dì Lam và những biến đổi trong tâm hồn mẹ, dì,được soi chiếu qua cảm xúc chân thật, hồn nhiên của một người con, người cháu. Cách nhìn ấy vừa gợi sự cảm động, vừa giúp người đọc thấy rõ chủ đề: dù cuộc sống đổi thay, tình thân gia đình vẫn là chỗ dựa, là nguồn sức mạnh bền vững.
Câu 5:
Cuộc sống ở nhiều vùng nông thôn hiện nay đang đổi thay từng ngày, giống như vùng quê của nhân vật “tôi”. Những con đường đất được thay bằng đường bê tông, nhà cửa khang trang hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao. Sự phát triển ấy cho thấy hiệu quả của công cuộc xây dựng nông thôn mới và quá trình hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần giữ gìn những giá trị truyền thống, nét đẹp văn hoá làng quê để không bị mai một trước nhịp sống đô thị hóa. Theo tôi, sự thay đổi là tất yếu và đáng mừng, nhưng phải gắn với việc bảo tồn bản sắc quê hương.
Câu 1:
Nhà phê bình Hoài Thanh từng cho rằng: “Thơ là tiếng nói của tâm hồn.” Bài thơ “Tự miễn” của Hồ Chí Minh chính là tiếng nói chân thành của một tâm hồn kiên cường trước nghịch cảnh. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ngắn gọn mà hàm súc, giàu tính triết lí. Qua hình ảnh “đông hàn” và “xuân noãn”, tác giả đã vận dụng phép đối nhằm khắc họa quy luật tất yếu của tự nhiên: sau mùa đông giá lạnh sẽ là mùa xuân ấm áp, huy hoàng. Hình ảnh ấy không chỉ gợi tả bức tranh thiên nhiên mà còn ẩn dụ cho hành trình cách mạng đầy gian khổ. Trong hoàn cảnh bị giam cầm, Bác vẫn giữ tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Giọng thơ bình thản mà vững vàng thể hiện bản lĩnh của một người chiến sĩ cách mạng: biến tai ương thành cơ hội rèn luyện ý chí. Qua đó, bài thơ không chỉ phản ánh vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về niềm tin và nghị lực sống.
Câu 2:
Có ý kiến cho rằng: “Nghịch cảnh không phải là bức tường ngăn cản mà là bậc thang đưa con người tới thành công.” Thật vậy, những thử thách trong cuộc sống mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự trưởng thành của mỗi người. Trước hết, thử thách là môi trường rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Nếu cuộc sống chỉ toàn thuận lợi, con người sẽ dễ trở nên yếu đuối và ỷ lại. Chính những khó khăn buộc ta phải suy nghĩ, tìm cách vượt qua, từ đó hình thành sự kiên trì và tinh thần trách nhiệm. Giống như thép phải qua lửa đỏ mới trở nên cứng cáp, con người cũng cần được tôi luyện qua nghịch cảnh để trưởng thành. Bên cạnh đó, thử thách giúp ta nhận ra giá trị thật của bản thân. Khi đối diện với khó khăn, ta mới hiểu mình mạnh ở đâu, yếu ở đâu, cần thay đổi điều gì. Những vấp ngã không phải dấu chấm hết mà là cơ hội để hoàn thiện mình. Thực tế cho thấy nhiều người thành công từng trải qua thất bại, nhưng họ không bỏ cuộc mà biến thất bại thành bài học quý giá. Hơn thế nữa, thử thách còn giúp con người biết trân trọng thành quả. Sau những ngày nỗ lực không ngừng, thành công đạt được sẽ trở nên ý nghĩa hơn rất nhiều. Nếu không có “mùa đông” lạnh giá, ta sẽ khó cảm nhận hết vẻ đẹp của “mùa xuân” ấm áp. Chính sự đối lập ấy làm nên giá trị của hạnh phúc. Tuy nhiên, để thử thách thực sự có ý nghĩa, mỗi người cần có thái độ đúng đắn. Nếu bi quan, chán nản, ta sẽ dễ bị đánh bại. Ngược lại, nếu giữ tinh thần lạc quan, dám đối diện và không ngừng cố gắng, thử thách sẽ trở thành động lực mạnh mẽ. Đặc biệt đối với học sinh – những người đang đứng trước nhiều áp lực học tập và lựa chọn tương lai – việc rèn luyện bản lĩnh trước khó khăn là vô cùng cần thiết. Như vậy, thử thách không phải là điều đáng sợ mà là phần tất yếu của hành trình sống. Nó giúp ta trưởng thành, mạnh mẽ và bản lĩnh hơn. Bởi lẽ, chính trong gian nan, con người mới khám phá hết tiềm năng của mình và vươn tới những giá trị cao đẹp.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là: biểu cảm
Câu 2: Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
Câu 3: Biện pháp tu từ trong câu thơ:"Một hữu đông hàn tiều lụy cảnh/Tương vô xuân noãn ích huy hoàng" là phép đối
biện pháp tu từ đối lập giúp câu thơ trở nên sinh động hấp dẫn làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn giúp nhấn mạnh truyền tải thông điệp của tác giả một cách rõ ràng, hấp dẫn
biện pháp đối còn nhấn mạnh Sự đối lập giữa đông và xuân thể hiện quy luật tất yếu của tự nhiên: sau mùa đông lạnh giá sẽ là mùa xuân tươi sáng. Qua đó, tác giả khẳng định một chân lí: sau gian khổ, thử thách sẽ đến những ngày tốt đẹp, huy hoàng.
biện pháp đối còn truyền tải thông điệp của tác giả: Trong cuộc sống, dù có rơi vào hoàn cảnh khó khăn, “mùa đông” khắc nghiệt, con người vẫn phải giữ niềm tin và tinh thần lạc quan, bởi tương lai tươi sáng chắc chắn sẽ đến. Đây cũng là lời động viên con người kiên trì vượt qua nghịch cảnh để hướng tới ánh sáng và thành công.
Câu 4:
Tai ương vốn là những điều tiêu cực, gắn với mất mát, đau khổ. Nhưng trong bài thơ, đối với nhân vật trữ tình, tai ương không chỉ là thử thách mà còn là cơ hội để tôi luyện bản lĩnh và ý chí. Những gian khổ giống như “mùa đông lạnh giá”, làm con người trở nên mạnh mẽ hơn, giúp rèn luyện tinh thần, hun đúc nghị lực và niềm tin vào tương lai. Nhờ có tai ương, con người mới thấu hiểu giá trị của “mùa xuân” – của hạnh phúc và vinh quang.
Câu 5:
Bài học ý nghĩa nhất tôi rút ra từ bài thơ là: phải luôn giữ vững niềm tin và tinh thần lạc quan trước mọi khó khăn của cuộc sống. Cuộc đời không phải lúc nào cũng bằng phẳng; sẽ có những “mùa đông” khắc nghiệt khiến ta mệt mỏi, chán nản. Nhưng nếu kiên trì, không bỏ cuộc, tin vào tương lai, ta sẽ chạm tới “mùa xuân” tươi sáng của riêng mình. Bài thơ nhắc nhở mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần rèn luyện ý chí, dám đối mặt với thử thách, bởi chính nghịch cảnh sẽ làm nên giá trị và bản lĩnh của con người.