Lã Thị Trà My

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lã Thị Trà My
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Bài làm

 Tính sáng tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại. Trong thời đại công nghệ phát triển nhanh chóng và thế giới không ngừng biến đổi, sáng tạo không chỉ là yếu tố giúp cá nhân nổi bật mà còn là chìa khóa để thích nghi và phát triển bền vững. Sáng tạo giúp giới trẻ phát huy khả năng tư duy độc lập, tìm ra những cách giải quyết mới mẻ cho các vấn đề phức tạp trong học tập, công việc và cuộc sống. Đồng thời, nó cũng thúc đẩy sự tự tin, tinh thần khởi nghiệp và khả năng đổi mới trong nhiều lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, kinh doanh. Với sự sáng tạo, giới trẻ không chỉ tiếp thu kiến thức một cách chủ động mà còn có thể đóng góp ý tưởng, cải tiến, góp phần xây dựng xã hội tiến bộ hơn. Vì vậy, việc rèn luyện và phát huy tính sáng tạo ngay từ khi còn trẻ là điều cần thiết, giúp mỗi người trẻ trở thành công dân toàn diện, bản lĩnh và sẵn sàng hội nhập trong thế giới hiện đại.

 

Câu 2:

Bài làm

Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt. Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng. Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.

Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm. Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má". Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.

Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai" . Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?

Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô. Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó. Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.

Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười. Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũng tới mà người thương đâu chưa thấy, những hoài niệm về niềm hạnh phúc với người vợ, “cuộc sống nghèo vậy mà vui lám”, buồn “tìm hoài không gặp” đi liền với nỗi lo “sợ mắt mình dở rồi nên nhìn không ra cổ”, “tới chết không biết có gặp được không”. “Từ đấy, ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại”. Ông vẫn đang mải miết đi hết những đường ngang ngõ dọc để tìm người thương, hay ông chân đã mỏi, gối đã chồn, đã dừng lại ở đâu đó trên hành trình cuộc đời mà vẫn chưa thôi khắc khoải. Trên hành trình tìm kiếm khát khao hạnh phúc đó, con người Nam Bộ trong truyện Biển người mênh mông cho chúng ta thấy tình yêu và sự gắn bó sâu quê hương xứ sở, tình cảm thuỷ chung sâu sắc, tấm lòng yêu thương, vị tha.

Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa nhân vật con người Nam Bộ trong trang văn với tình huống truyện tâm trạng, cốt truyện đơn giản, điểm nhìn di chuyển vào các nhân vật; ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ, giàu chất thơ cùng với giọng điệu buồn thương, ngậm ngùi để lại trong lòng người đọc nhìu cảm xúc khó tả. Người đọc cảm nhận về những mảnh đời bé nhỏ, bất hạnh, trôi nổi, lưu lạc, những khát khao kiếm tìm hạnh phúc âm thầm mà mãnh liệt. Hành trình kiếm tìm tình thân, hạnh phúc ấy cũng là hành trình tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn, hành trình của trái tim. Truyện khiến cho mỗi người đọc không nguôi về “nỗi người” trong trang văn của tác giả.

Truyện khơi gợi sự đồng cảm của người đọc, cho độc giả cảm nhận được những giá trị quý giá của tình thân, tình người, của hạnh phúc. Truyện cũng cảnh báo về những hời hợt, thờ ơ của mỗi người có thể đang góp phần làm nên cái “Biển người mênh mông” trong cuộc sống. Qua đó, tác giả đã để lại những ấn tượng sâu sắc về là một người chiến sĩ giàu trách nhiệm, kỷ luật và nặng lòng với quê hương, đất nước. Và rồi, đến cả khi đã gấp lại trang sách cũ, người ta vẫn canh cánh mãi những nỗi niềm rất lạ, rất riêng.

Câu 1 :

- Kiểu văn bản của ngữ liệu trên là văn bản thông tin.

Câu 2 :

- Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi là:

+ Người buôn bán trên chợ Nổi nhóm họp bằng xuồng, người đi mua đến chợ bằng xuồng, ghe.

+ Rao hàng bằng cây bẹo dựng đứng phía trên xuồng nhìn như một cột "ăng - ten" di động.

+ Có kèn bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc).

+ Các ghe bán hàng dạo chế ra cách “bẹo” hàng bằng âm thanh lạ tai của những chiếc kèn: Có kèn bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc).

+ Những tiếng rao: Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...? Những tiếng rao mời mọc nơi chợ nổi, nghe sao mà lảnh lót, thiết tha!

Câu 3 :

- Tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên là: liệt kê, đưa ra thêm thông tin.

Câu 4 :

- Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên là: Hình ảnh

- Tác dụng: Hình minh họa trong văn bản giữ vai trò quan trọng. Nó giúp làm rõ được lời thuyết minh trong văn bản và qua đó, giúp văn bản trở nên hấp dẫn và thuyết phục hơn đối với người đọc.

Câu 5 :

- Suy nghĩ của em về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây là:

- Chợ nổi đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân miền Tây nói riêng và người dân cả nước nói chung cũng như khách du lịch trên toàn thế giới, nó không chỉ là nơi mua bán hàng hóa mà còn là biểu tượng văn hóa độc đáo của vùng đất này. Chợ nổi không chỉ đáp ứng nhu cầu cơ bản về mặt hàng hóa, mà còn là nơi giao lưu, trao đổi văn hóa, kết nối cộng đồng với nhau. Nó thể hiện sự giàu có và đa dạng về nền văn hóa, đồng thời phản ánh tinh thần sáng tạo và lòng tự hào của những người dân miền Tây. Chợ nổi còn là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nghệ sĩ thể hiện trong nhiều tác phẩm nghệ thuật. Tóm lại, vai trò của chợ nổi trong đời sống người dân miền Tây không chỉ là về kinh tế mà còn cả về văn hóa và xã hội.

Bài 3:

Khi động năng tăng, thế năng giảm và ngược lại để duy trì tổng năng lượng không đổi. Vì động năng được chuyển đổi từ thế năng khi quả cầu giảm độ cao nên tốc độ của quả cầu ngày càng tăng. 

Bài 2:

a) Khi thang máy đi lên đều, lực kéo của động cơ chính bằng trọng lượng của thang máy: F = P

Công của động cơ để kéo thang máy khi đi lên đều:

A = m.g.h = 800.10.10 = 80000J

b) Khi thang máy đi lên nhanh dần đều, theo định luật II – Niu tơn: 𝐹 →+𝑃 →=𝑚 .𝑎 

Chiếu theo phương chuyển động: F − P = ma => F = P + ma = m.(g + a) => F = 800.(10+1) = 8800N Công của động cơ để kéo thang máy khi đi lên nhanh dần:

A = F.s = 8800.10 = 88000J

Bài 1:

a,  Ta có công của lực F: A F =F .s .cos 4501

=10.2.√2/2=14,14(J )>0

b, Hiệu suất H =A c i/ A t p .100%

Công có ích

A c i =A F − |A F m s |

= 14,14 - 5,17 = 8,97(J)

Công toàn phần

Atp = AF = 14,14(J)

=> H = 8,97/14,14.100%=63,44℅


Câu 1:

Bài làm

Việc tôn trọng sự khác biệt của người khác là một biểu hiện của văn minh và lòng nhân ái trong xã hội hiện đại. Mỗi con người là một cá thể riêng biệt, có hoàn cảnh sống, suy nghĩ, văn hóa và lối sống khác nhau. Việc chấp nhận và tôn trọng sự đa dạng ấy giúp xây dựng một môi trường sống hài hòa, nơi mọi người được là chính mình mà không lo bị kỳ thị hay phán xét. Khi ta tôn trọng sự khác biệt, ta cũng đang mở rộng tư duy, học cách lắng nghe và thấu hiểu nhiều góc nhìn khác nhau, từ đó trưởng thành và bao dung hơn. Thế giới sẽ trở nên phong phú và đầy sắc màu khi con người biết chấp nhận những điều không giống mình. Ngược lại, sự kỳ thị, phân biệt sẽ chỉ gây ra mâu thuẫn, chia rẽ và đẩy xã hội vào những xung đột không đáng có. Vì vậy, tôn trọng sự khác biệt không chỉ là thể hiện đạo đức cá nhân, mà còn là nền tảng để xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng và nhân văn.


Câu 2:

Bài làm

Tình mẫu tử, là tia sáng thiêng liêng của cuộc đời, không ngừng làm say đắm và truyền cảm hứng cho văn hóa nghệ thuật. Trong biểu tượng vô vàn tình cảm này, bài thơ "Nắng mới" của Lưu Trọng Lư nổi bật như một bức tranh hồn nhiên, làm cho những nỗi nhớ về mẹ, tình yêu thương và những ký ức ngọt ngào hiện về trong tâm hồn đọc giả. Tác giả đã mở đầu bài thơ bằng những từ ngữ tinh tế và sâu sắc: "Tặng hương hồn mẹ". Dòng chữ này không chỉ là lời tri ân mà còn là sự kết nối tâm linh giữa tác giả và người mẹ đã khuất. Tình yêu mẫu tử được thể hiện qua hình ảnh nắng mới, là biểu tượng của sự tươi mới và niềm vui. Điều này không chỉ là sự diễn đạt về thời tiết mà còn là ngôn ngữ của tình cảm mặn nồng, giúp độc giả cảm nhận được sự ấm áp và gần gũi với tình yêu thương của một người mẹ. Bức tranh thơ được vẽ nên từ những chi tiết nhỏ như tiếng gà trưa xao xác, màu áo đỏ phơi trước giậu, và những khoảnh khắc "những ngày không". Tất cả những hình ảnh này không chỉ là một diễn tả hình ảnh mà còn là hồi ức của tác giả về quãng thời gian hạnh phúc và không thể nào quên được. Những từ ngữ giản dị nhưng đầy tình cảm "nhão nhắn", "mềm mại" đã làm cho những kí ức ấy trở nên sống động.

Cuối cùng, bài thơ kết thúc bằng hình ảnh "nét cười đen nhánh", điểm nhấn tinh tế và sâu sắc như là một điểm dừng nhẹ nhàng. Hình ảnh này không chỉ là sự tỏ ra lưu loát của tác giả mà còn là một cách khéo léo để thể hiện nỗi buồn thanh thản và vững về trước ký ức. Cái "cười" không cần phải là một nụ cười rạng rỡ, mà có thể là "nét cười", vẫn giữ lại sự quyến rũ và kỳ bí của tình yêu mẫu tử.

“Mỗi lần nắng mới hắt bên song,

Xao xác, gà trưa gáy não nùng,

Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,

Chập chờn sống lại những ngày không.”

Nắng mới trong bài thơ của Lưu Trọng Lư không chỉ là ánh sáng của một buổi sáng mới, mà còn mang theo bản năng dịu dàng và êm đềm của nắng đầu xuân. Nắng này, nhẹ nhàng và êm dịu, không chỉ làm ấm áp không khí mà còn xua đi cái lạnh ẩm của mùa đông, mở ra không gian của bình yên và tĩnh lặng. Khung cảnh tác giả mô tả, với nắng mới hắt "bên song" cửa, hòa quyện cùng tiếng gà gáy trưa, tạo nên một bức tranh yên bình nhưng cũng mang theo nỗi cô liêu. Bức tranh này, mặc dù tràn đầy bình yên, lại càng làm cho tâm hồn tác giả bật khóc, làm rơi vào sự buồn bã, u buồn. Tâm hồn của tác giả bắt đầu trôi về miền kí ức xưa cũ, những ký ức lạc lõng giữa những dòng suối thời gian.

Quay về với những kí ức xưa, trái tim tác giả dâng trào bao nỗi nhớ về người mẹ quá cố của mình. Những kỉ niệm xưa chập chờn, sống lại trong tâm trí tác giả như những đám mây trắng nhẹ nhàng, trôi lơ lững trong không gian tĩnh lặng. Nắng mới chính là nguồn cảm hứng giúp tác giả kết nối với quá khứ, với người mẹ yêu dấu đã ra đi. Tình cảm của tác giả không chỉ là sự nhớ nhung, mà còn là một sự hoài niệm, làm cho người đọc cảm nhận được sự dịu dàng, ấm áp của tình mẹ giữa bức tranh nhẹ nhàng, bình yên của nắng mới và gà gáy trưa. Tác giả Lưu Trọng Lư đã biến những chi tiết đơn giản như nắng và gà thành một bức tranh hồn nhiên, làm sống lại không gian ký ức và làm cho độc giả ngập tràn trong cảm xúc tình cảm.

“Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời

Lúc người còn sống, tôi lên mười;

Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,

Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.

Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ

Hãy còn mường tượng lúc vào ra:

Nét cười đen nhánh sau tay áo

Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.”

Nhà thơ Lưu Trọng Lư, thông qua bài thơ "Nắng mới", đã mở lời tràn đầy nỗi nhớ mẹ một cách chân thành và trực tiếp. Tình cảm của ông không cần phải được diễn đạt qua những từ ngữ phức tạp, mà chính sự chân thành và sâu sắc trong lòng tác giả đã làm nên độ đẹp của bức tranh thơ này. Những dòng thơ đầu tiên đã đưa độc giả đến với hình ảnh hạnh phúc ngọt ngào của quãng thời gian "thiếu thời". Mẹ trong tà áo đỏ là biểu tượng của tình mẹ, và việc phơi áo để con mặc không chỉ là việc bình thường hàng ngày mà còn là hành động chăm sóc đầy yêu thương. Nắng mới không chỉ là ánh sáng tự nhiên mà còn là tình cảm ấm áp, chủ động, đưa con lại gần mẹ.

Tình mẫu tử và kí ức về mẹ được nhà thơ chứng minh là vô cùng sâu sắc khi ông nhấn mạnh rằng hình dáng mẹ vẫn "rõ nét", không bao giờ bị "xóa mờ". Tình yêu của mẹ vẫn hiện hữu trong từng khoảnh khắc, từng góc nhỏ của cuộc sống, thậm chí cả khi mẹ không còn đứng giữa đời. Mẹ trong bức tranh thơ của Lưu Trọng Lư là người phụ nữ biểu tượng, không cần phải miêu tả chi tiết, nhưng vẻ đẹp của bà được thể hiện qua "nét cười đen nhánh". Đây không chỉ là một cười mỉm bình dị mà còn chứa đựng sự hiểu biết và tình thấu hiểu của một người mẹ. Cuối cùng, bài thơ không chỉ là một kỷ niệm, mà còn là một lời chia sẻ với những người có mẹ, một lời nhắc nhở về tình yêu và sự quan trọng của người mẹ trong cuộc sống. Điều này đã khiến cho "Nắng mới" không chỉ là một tác phẩm thơ đẹp mắt mà còn là một thông điệp sâu sắc và ý nghĩa.


Câu 1:       

- Phương thức biểu đạt chính là: nghị luận.


Câu 2:        

•Tằn tiện – phung phí

•Hào phóng – keo kiệt

•Ở nhà – bay nhảy

•Hưởng thụ cuộc sống – bỏ bê gia đình


Câu 3:

- Vì mỗi người có một hoàn cảnh sống, trải nghiệm và giá trị riêng. Việc phán xét người khác dựa trên góc nhìn hạn hẹp và định kiến cá nhân có thể dẫn đến những hiểu lầm, sai lầm và sự thiếu công bằng. Tác giả muốn nhấn mạnh rằng chúng ta nên thấu hiểu thay vì vội vàng đánh giá.


Câu 4:

- Tác giả cho rằng điều đáng sợ không phải là có định kiến, mà là khi chúng ta cam chịu sống theo nó mà không phản kháng. Khi để định kiến chi phối, con người mất đi khả năng nhìn nhận khách quan, không còn là chính mình và đánh mất sự tự do tư duy. Đó chính là điều nguy hiểm và tồi tệ nhất.


Câu 5:   

- Thông điệp tôi rút ra là: hãy sống bao dung, biết tôn trọng sự khác biệt và tránh việc đánh giá người khác khi chưa thật sự hiểu họ. Quan trọng hơn, đừng để định kiến chi phối suy nghĩ và hành động của bản thân.