Trương Thế Huy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trương Thế Huy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a. Tính công của trọng lực:

Công của trọng lực A_P được tính bằng công thức:
A_P = P \cdot h = m \cdot g \cdot h
Trong đó:

m là khối lượng của vật (1,5 kg).
g là gia tốc trọng trường (10 m/s²).
h là độ cao của dốc so với mặt đất.

Độ cao h có thể tính được từ chiều dài của dốc l và góc nghiêng \alpha:
h = l \cdot \sin(\alpha) = 8 \cdot \sin(30^\circ) = 8 \cdot 0.5 = 4 \text{ m}

Thay các giá trị vào công thức tính công của trọng lực:
A_P = 1.5 \cdot 10 \cdot 4 = 60 \text{ J}

b. Tính công của lực ma sát:

Áp dụng định lý động năng: Công của các lực tác dụng lên vật bằng độ biến thiên động năng của vật.
A_P + A_{ms} = \frac{1}{2} m v_f^2 - \frac{1}{2} m v_i^2
Trong đó:

A_P là công của trọng lực (60 J).
A_{ms} là công của lực ma sát.
m là khối lượng của vật (1,5 kg).
v_f là vận tốc cuối của vật (6 m/s).
v_i là vận tốc đầu của vật (2 m/s).

Thay các giá trị vào:
60 + A_{ms} = \frac{1}{2} \cdot 1.5 \cdot (6^2) - \frac{1}{2} \cdot 1.5 \cdot (2^2)
60 + A_{ms} = \frac{1}{2} \cdot 1.5 \cdot 36 - \frac{1}{2} \cdot 1.5 \cdot 4
60 + A_{ms} = 27 - 3
60 + A_{ms} = 24
A_{ms} = 24 - 60 = -36 \text{ J}

Vậy:
a. Công của trọng lực là 60 J.
b. Công của lực ma sát là -36 J.

. Thế năng của vật ở độ cao ban đầu và động năng của vật lúc sắp chạm mặt đất. Nêu nhận xét về kết quả thu được.

Thế năng của vật ở độ cao ban đầu:
U = mgh = 0.2 \times 10 \times 10 = 20 \text{ J}
Động năng của vật lúc sắp chạm mặt đất (bỏ qua sức cản không khí):
Áp dụng định luật bảo toàn cơ năng, động năng lúc chạm đất bằng thế năng ban đầu:
K = U = 20 \text{ J}
Nhận xét: Thế năng ban đầu của vật chuyển hóa hoàn toàn thành động năng khi vật chạm đất.

b. Độ cao của vật ở vị trí mà động năng bằng thế năng trong khi đang rơi.

Gọi h là độ cao của vật so với mặt đất khi động năng bằng thế năng.
K = U
\frac{1}{2}mv^2 = mgh
Áp dụng định luật bảo toàn cơ năng:
mgh_0 = mgh + \frac{1}{2}mv^2
mgh_0 = mgh + mgh
mgh_0 = 2mgh
h = \frac{h_0}{2} = \frac{10}{2} = 5 \text{ m}

1 điểm) Một thang máy khối lượng m = 1200 kg chuyển động thẳng đứng lên cao 10 m. Lấy g = 10 m/s².

a. Thang máy đi lên đều với vận tốc 1 m/s. Tính công suất của động cơ.

Để tính công suất của động cơ, ta cần tính lực kéo của động cơ. Vì thang máy đi lên đều, lực kéo bằng trọng lực:
F = mg = 1200 \times 10 = 12000 \text{ N}
Công suất của động cơ:
P = Fv = 12000 \times 1 = 12000 \text{ W} = 12 \text{ kW}

b. Thang máy xuất phát đi lên nhanh dần đều với gia tốc 0,8 m/s². Tính công suất trung bình của động cơ.

Lực kéo của động cơ:
F = ma + mg
= m(a+g) = 1200(0.8 + 10)
= 1200 \times 10.8 = 12960 \text{ N}
Vận tốc trung bình của thang máy khi đi lên cao 10 m:
Ta có công thức: v^2 - v_0^2 = 2as. Vì thang máy xuất phát từ trạng thái đứng yên, v_0 = 0.
v^2 = 2as = 2 \times 0.8 \times 10 = 16
v = \sqrt{16} = 4 \text{ m/s}
Vận tốc trung bình:
v_{tb} = \frac{v_0 + v}{2} = \frac{0 + 4}{2} = 2 \text{ m/s}
Công suất trung bình của động cơ:
P_{tb} = Fv_{tb} = 12960 \times 2 = 25920 \text{ W} = 25.92 \text{ kW}

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận.

Câu 2. Hai cặp từ, cụm từ đối lập được sử dụng trong đoạn (1) là:tằn tiện - phung phí ở nhà - bay nhảy

Câu 3. Tác giả cho rằng đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng vì: Mỗi người có một lối sống, quan điểm và cách nhìn nhận cuộc sống khác nhau. Việc phán xét người khác một cách dễ dàng dựa trên những tiêu chuẩn chủ quan của bản thân sẽ dẫn đến sự hiểu lầm, thiếu công bằng và gây ra những tổn thương không đáng có. Đoạn văn đã nêu ra nhiều ví dụ minh họa cho điều này, cho thấy sự đa dạng trong cách sống và việc phán xét dễ dàng là thiếu khách quan.

Câu 4. Quan điểm "Điều tồi tệ nhất là chúng ta chấp nhận buông mình vào tấm lưới định kiến đó" có nghĩa là việc để cho định kiến của người khác chi phối cuộc sống của mình là điều nguy hiểm và đáng sợ nhất. Định kiến sẽ hạn chế sự tự do, sự phát triển cá nhân và khiến ta không thể sống thật với chính mình. Chấp nhận định kiến của người khác đồng nghĩa với việc từ bỏ quyền được sống theo cách riêng của mình, dẫn đến sự bất hạnh và mất đi cơ hội khám phá bản thân.

Câu 5. Thông điệp rút ra từ văn bản là: Hãy sống thật với chính mình, tôn trọng sự khác biệt của người khác và đừng bao giờ phán xét người khác một cách dễ dàng. Chúng ta cần lắng nghe tiếng nói của trái tim mình, sống theo cách mình muốn và không để định kiến của người khác chi phối cuộc sống của mình. Sự thấu hiểu và bao dung sẽ giúp chúng ta có một cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa hơn.

a. Điều kiện để một vật chuyển động tròn đều là gì?


Điều kiện để một vật chuyển động tròn đều là:


Vật phải chịu tác dụng của một lực hướng tâm có độ lớn không đổi.

Lực hướng tâm này luôn hướng vào tâm của quỹ đạo tròn.

Vận tốc của vật có độ lớn không đổi.


b. Trình bày đặc điểm của lực hướng tâm. Lấy 3 ví dụ về lực hướng tâm trong thực tế.


Đặc điểm của lực hướng tâm:


Phương: Luôn hướng vào tâm của quỹ đạo tròn.

Chiều: Hướng từ vật chuyển động về tâm quỹ đạo.

Độ lớn: F_{ht} = \frac{mv^2}{r}

Trong đó:

F_{ht}: là độ lớn của lực hướng tâm

m: là khối lượng của vật

v: là vận tốc của vật

r: là bán kính của quỹ đạo tròn


Ví dụ về lực hướng tâm trong thực tế:


Ô tô rẽ trên đường vòng: Lực ma sát giữa lốp xe và mặt đường đóng vai trò là lực hướng tâm, giúp xe chuyển động theo đường cong.

Vệ tinh nhân tạo chuyển động quanh Trái Đất: Lực hấp dẫn giữa Trái Đất và vệ tinh đóng vai trò là lực hướng tâm, giữ cho vệ tinh chuyển động trên quỹ đạo.

a. Trình bày nội dung định luật bảo toàn động lượng.


Trong một hệ kín (hệ không chịu tác dụng của ngoại lực hoặc tổng các ngoại lực tác dụng lên hệ bằng không), tổng động lượng của hệ được bảo toàn, tức là không thay đổi theo thời gian.


b. Thế nào là va chạm đàn hồi, va chạm mềm? Động lượng và động năng của hệ vật trước và sau va chạm có đặc điểm gì?


Va chạm đàn hồi: Là loại va chạm mà sau va chạm, các vật thể tách rời nhau và tổng động năng của hệ được bảo toàn (không có sự chuyển hóa thành các dạng năng lượng khác như nhiệt năng).

Va chạm mềm: Là loại va chạm mà sau va chạm, các vật thể dính vào nhau và chuyển động với cùng một vận tốc. Trong va chạm mềm, động năng của hệ không được bảo toàn, một phần động năng chuyển hóa thành các dạng năng lượng khác (ví dụ: nhiệt năng, năng lượng biến dạng).


Đặc điểm về động lượng và động năng:


Động lượng: Trong cả hai loại va chạm (đàn hồi và mềm), động lượng của hệ luôn được bảo toàn nếu hệ là hệ kín.

Động năng:

Trong va chạm đàn hồi, động năng của hệ được bảo toàn.

Trong va chạm mềm, động năng của hệ không được bảo toàn.

tóm tắt:

Lò xo treo thẳng đứng, chiều dài tự nhiên

Độ cứng lò xo Lấy

a) Treo vật có khối lượng .

Yêu cầu: Tính chiều dài của lò xo sau khi treo vật.

b) Muốn lò xo dài , cần treo vật có khối lượng bao nhiêu?

bài làm:

ta có thể sử dụng công thức của luật Hooke cho lò xo:

F=k⋅xF=k⋅x

Trong đó:

- FF là lực phục hồi (N)

- kk là độ cứng của lò xo (N/m)

- xx là độ biến dạng của lò xo (m)

a. Đầu tiên, chúng ta cần chuyển đổi khối lượng của vật từ gram sang kilogram: m=500g=0.5kgm=500g=0.5kg.

Sau đó, ta sử dụng công thức F=k⋅xF=k⋅x để tính chiều dài của lò xo khi vật được treo:

F=mgF=mg

F=0.5kg×10m/s2=5NF=0.5kg×10m/s2=5N

F=kxF=kx

5N=(100N/m)×x5N=(100N/m)×x

x=5N100N/m=0.05m=5cmx=5N100N/m=0.05m=5cm

Vậy, khi treo vật có khối lượng 500 g vào đầu dưới của lò xo, chiều dài của lò xo là 5 cm.

b. Ta cần tìm khối lượng của vật để khi treo vào đầu dưới của lò xo, chiều dài của lò xo là 48 cm. Sử dụng lại công thức F=kxF=kx, ta có:

F=kxF=kx

5N=(100N/m)×0.48m5N=(100N/m)×0.48m

5N=48N5N=48N

F=mgF=mg

48N=mg48N=mg

48N=10m/s2×m48N=10m/s2×m

m=48N10m/s2=4.8kgm=48N10m/s2=4.8kg

Vậy, để lò xo có chiều dài là 48 cm, cần treo vật có khối lượng là 4.8 kg vào đầu dưới của lò xo.

m1 =60kg; v1 =4m/s

m2 =90kg; v2 =3m/s

v=?

bài làm:

Áp dụng định luật bảo toàn động lượng :

pt→=ps→pt​​=ps​​ <=> m1v1→=m2v2→m1​v1​​=m2​v2​​

=> m1v1→+m2v2→=v→(m1+m2)m1​v1​​+m2​v2​​=v(m1​+m2​)

<=> v→=m1v1→+m2v2→m1+m2v=m1​+m2​m1​v1​​+m2​v2​​​

chọn chiều dương là chiều chuyển động ban đầu của xe

a)Cùng chiều : v=60.4+3.9060+90=3,4(m/s)v=60+9060.4+3.90​=3,4(m/s)

b) Ngược chiều : v=−60.4+3.9060+90=0,2(m/s)v=60+90−60.4+3.90​=0,2(m/s)

câu 1

Trong đoạn trích “Con chim vàng” của Nguyễn Quang Sáng, nhân vật cậu bé Bảo đã để lại ấn tượng sâu sắc bởi tấm lòng yêu thương đồng loại. Khi phát hiện con chim vàng bị trói ở gốc dừa, Bảo không chỉ vội vàng cởi dây, đặt chim vào thau nước mát, mà còn bỏ công trèo cao hái trái chuối, lội xuống giếng múc nước nuôi cho chim uống. Hành động “vội, với mãi, với mãi” của Bảo khi mẹ và chim rơi xuống giếng đã thể hiện rõ quyết tâm giữ gìn sự sống cho con vật yếu ớt. Tình thương trong sáng, chân thành ấy không chỉ dừng lại ở cử chỉ chăm sóc, mà còn là sự đồng cảm và cam kết bảo vệ, khiến người đọc xúc động. Vẻ đẹp ở tuổi lên mười hai của Bảo là minh chứng cho sức mạnh của tình thương: nó có thể vượt qua mọi trở ngại, chữa lành những tổn thương và gieo vào lòng ta niềm tin về giá trị nhân á

câu 2

Cuộc sống không chỉ là hành trình tìm kiếm thành công, danh vọng hay vật chất, mà còn là quá trình ta học cách yêu thương và được yêu thương. Giữa một thế giới không ngừng biến động, tình yêu thương luôn là sợi dây vô hình nhưng bền chặt, gắn kết con người với nhau, mang đến sự ấm áp và hi vọng cho những tâm hồn đang lạc lõng. Vì thế, tình yêu thương giữ một vai trò vô cùng quan trọng và ý nghĩa trong đời sống mỗi con người và cả cộng đồng xã hội.

Tình yêu thương là một thứ tình cảm thiêng liêng, tốt đẹp xuất phát từ trái tim và tâm hồn. Đó là sự đồng cảm, sẻ chia, là mong muốn đem lại điều tốt đẹp cho người khác, không toan tính, không vụ lợi. Yêu thương không nhất thiết phải là những điều lớn lao; đôi khi, chỉ là một ánh mắt cảm thông, một lời hỏi thăm, một hành động giúp đỡ cũng đủ để người khác cảm nhận được sự ấm áp từ trái tim ta. Chính tình yêu thương làm nên chất người trong mỗi chúng ta, là biểu hiện cao đẹp của lối sống nhân văn.Tình yêu thương rất đa dạng trong đời sống. Đó là khi ta sẵn sàng dang tay giúp đỡ những người gặp khó khăn mà không cần đền đáp. Là khi ta biết đặt mình vào vị trí của người khác để cảm thông, thấu hiểu. Là khi ta chấp nhận hy sinh lợi ích cá nhân vì hạnh phúc của người thân, bạn bè. Hay đơn giản, là khi ta bao dung, tha thứ cho những lỗi lầm của người khác, trao cho họ cơ hội để làm lại. Những hành động tưởng chừng nhỏ bé ấy lại mang sức mạnh chữa lành và làm đẹp tâm hồn người nhận lẫn người trao.Yêu thương trong cuộc sống là vô cùng to lớn. Đối với người được nhận yêu thương, đó là nguồn sức mạnh tinh thần quý giá, giúp họ vượt qua khó khăn, nỗi đau và cảm thấy được an ủi, trân trọng. Tình yêu thương, đặc biệt là với những mảnh đời bất hạnh, có thể trở thành điểm tựa vững chắc, là ánh sáng soi đường trong những lúc tăm tối nhất. Đối với người trao đi yêu thương, tình cảm ấy giúp tâm hồn họ trở nên phong phú, thanh thản và sâu sắc hơn. Một trái tim biết yêu thương là một trái tim đẹp, đầy nhân hậu. Còn với xã hội, tình yêu thương chính là chất keo gắn kết con người lại với nhau, xóa bỏ khoảng cách và định kiến, lan tỏa những giá trị đạo đức tốt đẹp, tạo nên một cộng đồng văn minh, đầy lòng nhân ái.

câu 1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là tự sự kết hợp miêu tả (kể lại sự việc Bảo cứu chim vàng, kết hợp miêu tả tâm trạng, hành động của nhân vật và khung cảnh).

câu 2 Tình huống truyện nổi bật trong đoạn trích là cuộc gặp gỡ và hành động đầy tình mẫu tử của Bảo: Bảo mười hai tuổi nhặt được con chim vàng bị trói, lo lắng chăm sóc rồi giữ lại dưới mái nhà mình để nuôi.

câu 3

  • Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba (truyện kể của người tường thuật bên ngoài).
  • Tác dụng của ngôi kể thứ ba: tạo sự khách quan, bao quát, vừa cho phép người đọc theo dõi việc làm và nội tâm của Bảo, vừa gợi sự đồng cảm khi tác giả lùi lại làm chứng nhân quan sát

Câu 4: Chi tiết “Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thờ xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.” thể hiện sự cô đơn, bất lực của Bào trước cái chết. Bào khao khát được giúp đỡ, được cứu sống nhưng không ai đến bên cạnh. Chi tiết này nhấn mạnh sự bất công, tàn nhẫn của xã hội và số phận bi thảm của người nghèo.

Câu 5: Cậu bé Bào là hình ảnh tiêu biểu cho người nghèo khổ, bị áp bức trong xã hội cũ. Bào hiền lành, chịu thương chịu khó nhưng lại phải chịu nhiều bất công, đau khổ. Qua nhân vật Bào, tác giả thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với số phận bất hạnh của những người dân nghèo, đồng thời lên án sự tàn ác, vô cảm của giai cấp thống trị. Tác giả gửi gắm thông điệp về lòng nhân ái, sự cần thiết phải bảo vệ người yếu thế trong xã hội.