Nguyễn Tuấn Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Tuấn Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a. Thế năng ban đầu và động năng khi sắp chạm đất

Thế năng tại độ cao \(H = 10 \textrm{ } \text{m}\):

\(W_{t} = m \cdot g \cdot h = 0,2 \cdot 10 \cdot 10 = 20 \textrm{ } \text{J}\)

Vì rơi tự do nên toàn bộ thế năng chuyển thành động năng khi sắp chạm đất:

\(W_{đ} = 20 \textrm{ } \text{J}\)

Nhận xét:
Tổng cơ năng không đổi:

\(W = W_{t} + W_{đ} = 20 \textrm{ } \text{J} \textrm{ } (\text{kh} \hat{\text{o}} \text{ng}\&\text{nbsp};đổ\text{i}\&\text{nbsp};\text{trong}\&\text{nbsp};\text{qu} \overset{ˊ}{\text{a}} \&\text{nbsp};\text{tr} \overset{ˋ}{\imath} \text{nh}\&\text{nbsp};\text{r}o\text{i}\&\text{nbsp};\text{t}ự\&\text{nbsp};\text{do},\&\text{nbsp};\text{kh} \hat{\text{o}} \text{ng}\&\text{nbsp};\text{c} \overset{ˊ}{\text{o}} \&\text{nbsp};\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t})\)

Thế năng giảm → Động năng tăng tương ứng.


b. Độ cao khi động năng bằng thế năng

Gọi độ cao cần tìm là \(h\). Khi đó:

\(W_{t} = W_{đ} \Rightarrow m g h = \frac{1}{2} m v^{2} \Rightarrow g h = \frac{1}{2} v^{2}\)

Do cơ năng bảo toàn:

\(W = W_{t} + W_{đ} = m g h + \frac{1}{2} m v^{2} = 20 \textrm{ } \text{J} \Rightarrow m g h + m g h = 20 \Rightarrow 2 m g h = 20 \Rightarrow h = \frac{20}{2 m g} = \frac{20}{2 \cdot 0,2 \cdot 10} = \frac{20}{4} = 5 \textrm{ } \text{m}\)


Kết luận:

  • a. Thế năng ban đầu: 20 J; động năng lúc sắp chạm đất: 20 J
  • b. Động năng bằng thế năng khi vật ở độ cao: 5 m

a. Thang máy đi lên đều với vận tốc 1 m/s

Chuyển động đều → Gia tốc = 0
Lực mà động cơ cần thắng chỉ là trọng lực:

\(F = P = m \cdot g = 1200 \cdot 10 = 12000 \textrm{ } \text{N}\)

Công suất:

\(P = F \cdot v = 12000 \cdot 1 = 12000 \textrm{ } \text{W} = \boxed{12 \textrm{ } \text{kW}}\)


b. Thang máy đi lên nhanh dần đều với gia tốc \(a = 0 , 8 \textrm{ } \text{m}/\text{s}^{2}\)

Lực tổng hợp mà động cơ phải cung cấp:

\(F = m \left(\right. g + a \left.\right) = 1200 \left(\right. 10 + 0 , 8 \left.\right) = 1200 \cdot 10 , 8 = 12960 \textrm{ } \text{N}\)

Thời gian đi hết 10 m từ trạng thái nghỉ:

\(s = \frac{1}{2} a t^{2} \Rightarrow 10 = \frac{1}{2} \cdot 0 , 8 \cdot t^{2} \Rightarrow t^{2} = \frac{10}{0 , 4} = 25 \Rightarrow t = 5 \textrm{ } \text{s}\)

Công của động cơ:

\(A = F \cdot s = 12960 \cdot 10 = 129600 \textrm{ } \text{J}\)

Công suất trung bình:

\(P_{\text{tb}} = \frac{A}{t} = \frac{129600}{5} = \boxed{25920 \textrm{ } \text{W} = 25 , 92 \textrm{ } \text{kW}}\)


Kết luận:

  • a. Công suất động cơ khi đi đều: 12 kW
  • b. Công suất trung bình khi đi nhanh dần đều: 25,92 kW

a. Công của trọng lực

Công của trọng lực được tính theo công thức:

\(A_{\text{tr}} = m \cdot g \cdot h\)

Với \(h\) là độ cao mà vật rơi xuống theo phương thẳng đứng. Ta có:

\(h = s \cdot sin ⁡ \left(\right. \alpha \left.\right) = 8 \cdot sin ⁡ \left(\right. 30^{\circ} \left.\right) = 8 \cdot 0 , 5 = 4 \textrm{ } \text{m}\)

Thay vào:

\(A_{\text{tr}} = 1 , 5 \cdot 10 \cdot 4 = 60 \textrm{ } \text{J}\)


b. Công của lực ma sát

Áp dụng định lý động năng:

\(A_{độ\text{ng}} = \frac{1}{2} m v_{2}^{2} - \frac{1}{2} m v_{1}^{2} = \frac{1}{2} \cdot 1 , 5 \cdot \left(\right. 6^{2} - 2^{2} \left.\right) = 0 , 75 \cdot \left(\right. 36 - 4 \left.\right) = 0 , 75 \cdot 32 = 24 \textrm{ } \text{J}\)

Mà theo định lý công – động năng:

\(A_{\text{tr}} + A_{\text{ms}} = A_{độ\text{ng}} \Rightarrow 60 + A_{\text{ms}} = 24 \Rightarrow A_{\text{ms}} = 24 - 60 = - 36 \textrm{ } \text{J}\)


Kết luận:

  • a. Công của trọng lực: 60 J
  • b. Công của lực ma sát: –36 J (dấu âm vì ma sát cản trở chuyển động)

Câu 1: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay.

Trong xã hội hiện đại, tính sáng tạo có vai trò vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo không chỉ giúp các bạn trẻ tìm ra những ý tưởng mới mẻ trong học tập, làm việc mà còn là yếu tố then chốt để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thời đại công nghệ và tri thức. Trong môi trường học đường, người học có tư duy sáng tạo sẽ biết cách tiếp cận kiến thức một cách linh hoạt, hiệu quả, không rập khuôn máy móc. Khi bước ra đời, sự sáng tạo còn giúp người trẻ giải quyết vấn đề một cách độc lập, đổi mới phương pháp làm việc, từ đó tạo ra giá trị khác biệt và khẳng định bản thân. Ngoài ra, sáng tạo còn góp phần nuôi dưỡng cảm hứng sống tích cực, nâng cao tinh thần trách nhiệm và chủ động cống hiến cho cộng đồng. Vì thế, thế hệ trẻ ngày nay cần không ngừng rèn luyện tư duy sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, biến những ý tưởng thành hành động để đóng góp cho sự phát triển của bản thân và xã hội.


Câu 2: Viết bài văn trình bày cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư).

Nguyễn Ngọc Tư là cây bút mang đậm hồn cốt Nam Bộ, với lối viết dung dị, sâu sắc và đầy chất nhân văn. Trong truyện ngắn Biển người mênh mông, qua hai nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, tác giả đã khắc họa rõ nét vẻ đẹp con người Nam Bộ – những con người nghèo khó nhưng giàu tình nghĩa và đầy nghị lực sống.

Phi là một người trẻ sinh ra trong hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm gia đình, từ nhỏ đã phải chịu nhiều thiệt thòi. Không có cha, sớm xa mẹ, sống với ngoại rồi sau này đơn độc giữa cuộc đời. Dù vậy, Phi không buông xuôi mà vẫn cố gắng học tập, làm thêm để tự lập. Hình ảnh Phi là đại diện cho lớp người trẻ Nam Bộ tuy khắc khổ nhưng giàu nghị lực, biết vượt lên hoàn cảnh. Anh cũng sống chan chứa tình cảm – từng ngoan ngoãn nghe lời ngoại, gắn bó với má, và sau này lại sẵn lòng giúp đỡ ông Sáu Đèo khi ông nhờ nuôi con chim bìm bịp. Tấm lòng chân thành và chất phác của Phi khiến người đọc xúc động.

Trong khi đó, ông Sáu Đèo là hình ảnh người già Nam Bộ từng trải, giàu nghĩa tình và trung hậu. Cả đời ông đi khắp nơi để tìm lại người vợ đã rời bỏ mình vì những năm tháng sống cơ cực. Ông không oán trách mà chỉ mong được gặp lại để nói một lời xin lỗi. Dù nghèo, ông vẫn sống tử tế, trân trọng những mối quan hệ xung quanh. Khi cảm thấy mình sắp không còn đủ sức, ông tìm đến Phi – người ông tin tưởng – gửi gắm con bìm bịp. Hành động nhỏ ấy chứa đựng niềm tin và sự sẻ chia giữa hai con người tưởng chừng xa lạ. Tấm lòng bao dung, sâu sắc của ông Sáu Đèo thể hiện rõ vẻ đẹp tình người thấm đẫm trong văn hóa Nam Bộ.

Qua hai nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ kể một câu chuyện đời thường mà còn gửi gắm hình ảnh con người Nam Bộ đầy nghĩa tình, bền bỉ trước cuộc đời gian khó. Dẫu nghèo khó, cô đơn hay thiếu thốn, họ vẫn sống trọn vẹn, nhân hậu và luôn giữ gìn những giá trị tình cảm tốt đẹp. Đó là vẻ đẹp lặng lẽ nhưng lay động lòng người, là sức sống bền bỉ giữa “biển người mênh mông” của cuộc đời.

Câu 1.
Kiểu văn bản của ngữ liệu trên:
Văn bản thuyết minh kết hợp yếu tố miêu tả.


Câu 2.
Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi:

  • Người bán và người mua đều sử dụng ghe, xuồng để di chuyển trên sông.
  • Các mặt hàng được treo trên “cây bẹo” – sào tre dựng đứng trên ghe – để người mua nhận biết từ xa.
  • Ghe bán hàng dạo dùng kèn bấm tay, kèn đạp chân (kèn cóc) để gây sự chú ý.
  • Những tiếng rao độc đáo như: “Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...?”

Câu 3.
Tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản:

  • Giúp người đọc hình dung cụ thể và chân thực hơn về các địa điểm có chợ nổi ở miền Tây.
  • Làm tăng tính xác thực và giá trị thông tin cho văn bản.
  • Thể hiện sự phong phú, đa dạng và phổ biến của loại hình chợ nổi trong vùng sông nước.

Câu 4.
Tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản:

  • Giúp việc rao hàng và thu hút khách trở nên trực quan, sinh động hơn (ví dụ: cây bẹo treo hàng hóa, âm thanh từ kèn).
  • Tạo nét văn hóa độc đáo, gần gũi, đặc trưng cho chợ nổi miền Tây.
  • Tăng hiệu quả giao tiếp trong môi trường sông nước, nơi việc nói chuyện trực tiếp có thể khó khăn.

Câu 5.
Suy nghĩ về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây:
Chợ nổi không chỉ là nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân miền Tây. Nó phản ánh lối sống gắn bó với sông nước, thể hiện sự khéo léo, linh hoạt trong sinh hoạt và giao thương. Đồng thời, chợ nổi còn là điểm thu hút du lịch, góp phần bảo tồn nét văn hóa đặc sắc của vùng đất này.

  1. Lực trọng trường: Trọng lực tác động vào quả cầu làm nó chuyển động theo chiều nghiêng của sườn núi. Phần trọng lực có phương song song với mặt phẳng nghiêng của sườn núi sẽ làm tăng tốc độ của quả cầu.
  2. Lực ma sát lăn: Khi quả cầu lăn, có sự xuất hiện của lực ma sát giữa quả cầu và mặt phẳng nghiêng. Tuy nhiên, lực này không gây ra sự giảm tốc mà chỉ tạo ra sự chuyển đổi giữa động năng và thế năng. Lực ma sát lăn giúp quả cầu lăn mà không trượt, tức là không có ma sát trượt làm tiêu hao năng lượng. Do đó, động năng của quả cầu tăng lên khi nó di chuyển xuống sườn núi.
  3. Chuyển đổi giữa thế năng và động năng: Khi quả cầu di chuyển xuống sườn núi, thế năng (do vị trí cao) chuyển hóa thành động năng (tăng tốc độ). Vì thế, khi quả cầu xuống dốc, động năng của nó tăng lên, và từ đó tốc độ cũng tăng.

Tóm lại, quả cầu lăn trên sườn núi với tốc độ tăng dần vì trọng lực kéo quả cầu xuống và chuyển hóa thế năng thành động năng, trong khi lực ma sát lăn không làm giảm tốc độ của nó.

a) Tính công của động cơ để kéo thang máy đi lên đều

Khi thang máy đi lên đều, lực kéo của động cơ cần phải cân bằng với trọng lực của thang máy để thang máy có thể chuyển động đều. Lực kéo này bằng với trọng lực của thang máy \(F_{\text{k} \overset{ˊ}{\text{e}} \text{o}} = m \cdot g\), trong đó:

  • \(m = 800 \textrm{ } \text{kg}\) là khối lượng của thang máy,
  • \(g = 10 \textrm{ } \text{m}/\text{s}^{2}\) là gia tốc trọng trường,
  • \(h = 12 \textrm{ } \text{m}\) là độ cao mà thang máy đi lên.

Công của động cơ

Công của động cơ là công của lực kéo để đưa thang máy lên cao, được tính bằng:

\(A = F_{\text{k} \overset{ˊ}{\text{e}} \text{o}} \cdot h\)

Với \(F_{\text{k} \overset{ˊ}{\text{e}} \text{o}} = m \cdot g\), ta có:

\(A = m \cdot g \cdot h = 800 \cdot 10 \cdot 12 = 96 , 000 \textrm{ } \text{J}\)

Kết quả:
Công của động cơ khi thang máy đi lên đều là 96,000 J.


b) Tính công của động cơ để kéo thang máy đi lên nhanh dần đều với gia tốc 1 m/s²

Khi thang máy đi lên nhanh dần đều, động cơ phải cung cấp một lực kéo không chỉ để chống lại trọng lực mà còn phải có một lực tác dụng để tạo ra gia tốc.

1. Lực kéo

Lực kéo cần thiết khi thang máy đi lên nhanh dần đều là tổng lực của trọng lực và lực để tạo gia tốc. Lực kéo này được tính bằng:

\(F_{\text{k} \overset{ˊ}{\text{e}} \text{o}} = m \cdot g + m \cdot a\)

Trong đó:

  • \(a = 1 \textrm{ } \text{m}/\text{s}^{2}\) là gia tốc của thang máy.

Tính lực kéo:

\(F_{\text{k} \overset{ˊ}{\text{e}} \text{o}} = 800 \cdot 10 + 800 \cdot 1 = 8000 + 800 = 8800 \textrm{ } \text{N}\)

2. Công của động cơ

Công của động cơ là lực kéo nhân với quãng đường mà thang máy di chuyển:

\(A = F_{\text{k} \overset{ˊ}{\text{e}} \text{o}} \cdot h = 8800 \cdot 12 = 105 , 600 \textrm{ } \text{J}\)

Kết quả:
Công của động cơ khi thang máy đi lên nhanh dần đều là 105,600 J.

a) Tính công của ngoại lực tác dụng lên vật khi vật dời một quãng đường 2 m

Công của lực ngoại lực \(A_{\text{ngo}ạ\text{i}\&\text{nbsp};\text{l}ự\text{c}}\) được tính bằng công thức:

\(A_{\text{ngo}ạ\text{i}\&\text{nbsp};\text{l}ự\text{c}} = F \cdot d \cdot cos ⁡ \left(\right. \alpha \left.\right)\)

Trong đó:

  • \(F = 10 \textrm{ } \text{N}\) là lực tác dụng,
  • \(d = 2 \textrm{ } \text{m}\) là quãng đường vật di chuyển,
  • \(\alpha = 45^{\circ}\) là góc giữa lực và độ dời.

Ta có:

\(A_{\text{ngo}ạ\text{i}\&\text{nbsp};\text{l}ự\text{c}} = 10 \cdot 2 \cdot cos ⁡ \left(\right. 45^{\circ} \left.\right)\)

Vì \(cos ⁡ \left(\right. 45^{\circ} \left.\right) = \frac{\sqrt{2}}{2}\), ta tính:

\(A_{\text{ngo}ạ\text{i}\&\text{nbsp};\text{l}ự\text{c}} = 10 \cdot 2 \cdot \frac{\sqrt{2}}{2} = 10 \cdot \sqrt{2} \approx 14.14 \textrm{ } \text{J}\)

Kết quả:
Công của ngoại lực là khoảng 14.14 J.


b) Tính hiệu suất trong trường hợp này

Để tính hiệu suất, ta cần xác định công có ích (công mà ngoại lực chuyển hóa thành cơ năng) và công toàn bộ (tổng công của lực ngoại lực).

1. Tính công của lực ma sát

Lực ma sát \(F_{\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t}}\) được tính theo công thức:

\(F_{\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t}} = \mu \cdot N\)

Trong đó:

  • \(\mu = 0.2\) là hệ số ma sát,
  • \(N = m \cdot g\) là lực bình thường, với \(m = 2 \textrm{ } \text{kg}\) và \(g = 10 \textrm{ } \text{m}/\text{s}^{2}\).

Tính \(N\):

\(N = 2 \cdot 10 = 20 \textrm{ } \text{N}\)

Vậy:

\(F_{\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t}} = 0.2 \cdot 20 = 4 \textrm{ } \text{N}\)

Công của lực ma sát \(A_{\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t}}\) được tính bằng:

\(A_{\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t}} = F_{\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t}} \cdot d = 4 \cdot 2 = 8 \textrm{ } \text{J}\)

2. Tính công có ích

Công có ích là công mà lực ngoại lực đã thực hiện để vượt qua lực ma sát và làm vật chuyển động. Công có ích bằng tổng công của lực ngoại lực trừ đi công của lực ma sát:

\(A_{\text{c} \overset{ˊ}{\text{o}} \&\text{nbsp}; \overset{ˊ}{\imath} \text{ch}} = A_{\text{ngo}ạ\text{i}\&\text{nbsp};\text{l}ự\text{c}} - A_{\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t}} = 14.14 \textrm{ } \text{J} - 8 \textrm{ } \text{J} = 6.14 \textrm{ } \text{J}\)

3. Tính hiệu suất

Hiệu suất \(\eta\) được tính bằng tỉ số giữa công có ích và công toàn bộ:

\(\eta = \frac{A_{\text{c} \overset{ˊ}{\text{o}} \&\text{nbsp}; \overset{ˊ}{\imath} \text{ch}}}{A_{\text{ngo}ạ\text{i}\&\text{nbsp};\text{l}ự\text{c}}} \times 100 \%\)

Vậy:

\(\eta = \frac{6.14}{14.14} \times 100 \% \approx 43.4 \%\)

Kết quả:
Hiệu suất là khoảng 43.4%.

Công thức:

Lực đàn hồi của lò xo cân bằng với trọng lực của vật:

\(F_{đ\text{h}} = F_{\text{tr}ọ\text{ng}\&\text{nbsp};\text{l}ự\text{c}} \Rightarrow k \Delta l = m g\)

Với:

  • \(k = 100 \textrm{ } \text{N}/\text{m}\): độ cứng lò xo
  • \(\Delta l\): độ giãn của lò xo
  • \(m\): khối lượng vật
  • \(g = 10 \textrm{ } \text{m}/\text{s}^{2}\)

Chiều dài của lò xo khi giãn là:

\(l = l_{0} + \Delta l\)

Trong đó \(l_{0} = 40 \textrm{ } \text{cm} = 0,40 \textrm{ } \text{m}\)


a. Treo vật khối lượng 500 g = 0,5 kg

Áp dụng công thức:

\(\Delta l = \frac{m g}{k} = \frac{0,5 \cdot 10}{100} = 0,05 \textrm{ } \text{m} \Rightarrow l = 0,40 + 0,05 = 0,45 \textrm{ } \text{m} = 45 \textrm{ } \text{cm}\)

Kết quả: chiều dài lò xo là 45 cm


b. Lò xo có chiều dài 48 cm = 0,48 m, cần tìm \(m\)

\(\Delta l = 0,48 - 0,40 = 0,08 \textrm{ } \text{m} \Rightarrow m g = k \Delta l \Rightarrow m = \frac{k \Delta l}{g} = \frac{100 \cdot 0,08}{10} = 0,8 \textrm{ } \text{kg} = 800 \textrm{ } \text{g}\)

Kết quả: cần treo vật khối lượng 800 g


Tổng kết:

  • a. Chiều dài lò xo khi treo vật 500g: 45 cm
  • b. Muốn lò xo dài 48 cm thì cần vật khối lượng: 800 g

Ký hiệu:

  • \(m_{1} = 60 \textrm{ } \text{kg}\)\(v_{1} = 4 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\): khối lượng và vận tốc của người.
  • \(m_{2} = 100 \textrm{ } \text{kg}\)\(v_{2} = 3 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\): khối lượng và vận tốc của xe.
  • \(v\): vận tốc chung sau khi người nhảy lên xe.

Áp dụng định luật bảo toàn động lượng:

\(m_{1} v_{1} + m_{2} v_{2} = \left(\right. m_{1} + m_{2} \left.\right) v\)

a. Khi người và xe cùng chiều

Khi đó \(v_{1} = 4 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)\(v_{2} = 3 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)

\(60 \cdot 4 + 100 \cdot 3 = \left(\right. 60 + 100 \left.\right) v\)\(240 + 300 = 160 v \Rightarrow 540 = 160 v \Rightarrow v = \frac{540}{160} = 3.375 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)

b. Khi người và xe ngược chiều

Giả sử người chạy hướng dương (vẫn là \(v_{1} = 4 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)), thì xe có vận tốc ngược lại: \(v_{2} = - 3 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)

\(60 \cdot 4 + 100 \cdot \left(\right. - 3 \left.\right) = \left(\right. 60 + 100 \left.\right) v\)\(240 - 300 = 160 v \Rightarrow - 60 = 160 v \Rightarrow v = \frac{- 60}{160} = - 0.375 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)

Kết luận:

  • a. Vận tốc sau khi người nhảy lên xe (cùng chiều): 3.375 m/s
  • b. Vận tốc sau khi người nhảy lên xe (ngược chiều): -0.375 m/s (ngược chiều ban đầu của người)