Nguyễn Lệ My
Giới thiệu về bản thân
Chọn mốc thế năng tại mặt đất. Theo định luật bảo toàn cơ năng ta có:
W = Wđ + Wt =2/3Wt+Wt=2/5 Wt
=>W = 5/2.mgh
=>m = 2W/5gh = 2.37,5/5.10.3 =0,5 (kg)
Ta có: Wđ = 3/2Wt =>1/2mv^2 = 3/2 mgh
v = 3gh =3.10.3=9,49 (m/s)
tóm tắt
đổi 21,6km/h = 6m/s
m = 2tấn = 2000kg
Giải
ta có:Vt =Vo + at
=>a= (Vt - Vo)/ t = (6-0)/15=0,4 (m/s^2)
Quãng đường xe đi được là:
S = (Vt^2 - Vo^2) / 2a = (6^2-0^2) / 2.0,4 = 45(m)
a) Ta có: F = m.a = 2000.0,4 = 800N
A = F.S =800.45 = 36000 (J)
P = A/t =36000/15 = 240 (W)
b) Ta có: Fms =0,005N =0,005.2000.10= 1000 (N)
ADEL II Newton: F - Fms = m.a
=>F = Fms + m.a = 1000 + 2000.0,4 = 1800 (N)
A = F.S = 1800.45 = 81000 (J)
P = A/t = 81000/15=5400 (W)
câu 1
Đoạn trích dẫn của Mark Twain là một lời nhắc nhở sâu sắc về việc sống một cuộc đời trọn vẹn và không hối tiếc. Câu nói này khuyến khích chúng ta vượt ra khỏi vùng an toàn, đối mặt với những thử thách và nắm bắt những cơ hội mà cuộc sống mang lại. Sự hối hận lớn nhất thường không phải vì những sai lầm ta mắc phải, mà là vì những điều ta chưa bao giờ thử.Khi còn trẻ, chúng ta thường bị ràng buộc bởi nỗi sợ thất bại, sự phán xét của người khác, hoặc đơn giản là sự lười biếng. Chúng ta chọn con đường an toàn, ổn định, nhưng đôi khi lại bỏ lỡ những cơ hội để khám phá bản thân, theo đuổi đam mê và tạo ra những kỷ niệm đáng nhớ. Hai mươi năm sau, khi nhìn lại, chúng ta có thể tự hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu mình đã thử?”. Nỗi hối tiếc này có thể dai dẳng và khó nguôi ngoai.“Tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn” là một phép ẩn dụ mạnh mẽ. Nó tượng trưng cho việc từ bỏ sự ổn định giả tạo, chấp nhận rủi ro và dấn thân vào những điều chưa biết. Điều này không có nghĩa là chúng ta nên hành động một cách bốc đồng, mà là cần phải can đảm để theo đuổi những ước mơ, khám phá những khả năng tiềm ẩn và sống một cuộc đời ý nghĩa. Đôi khi, những điều tuyệt vời nhất lại nằm ngoài vùng an toàn của chúng ta.
câu 2
Nhà văn Thạch Lam là cây bút xuất sắc trong nhóm Tự lực văn đoàn. Ông sinh năm 1910 tại Hà Nội, tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi tên là Nguyễn Tường Lân, bút danh Thạch Lam.Tác phẩm hướng về đời sống bình dị, tình cảm nghiêng về người nghèo, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Lối viết trữ tình hướng nội, khơi sâu vào đời sống bên trong với những rung động và cảm giác tế vi
Trong đoạn trích, nhân vật người mẹ hiện lên với những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống: giàu tình yêu thương, đức hy sinh và lòng vị tha. Bà là hình ảnh thu nhỏ của những người mẹ tảo tần, suốt đời lam lũ hy sinh vì con cái.
Tình yêu thương của người mẹ thể hiện qua sự quan tâm, săn sóc dành cho Tâm. Dù đã già yếu, bà vẫn nhớ những chi tiết nhỏ nhặt về con, từ việc bác Cả báo tin Tâm ốm đến những thói quen, sở thích của con ngày nhỏ. Bà ân cần hỏi han, lo lắng cho sức khỏe của Tâm, dù đáp lại chỉ là sự hờ hững, lạnh nhạt. Câu hỏi: “Năm ngoái bác Cả lên tỉnh về bảo cậu ốm. Tôi lo quá, nhưng quê mùa chả biết tỉnh thế nào mà đi, thành ra không dám lên thăm. Bây giờ cậu đã khỏe hẳn chưa?” chất chứa bao nỗi niềm thương nhớ, lo lắng của người mẹ dành cho đứa con xa xứ.
Đức hy sinh của người mẹ thể hiện qua cuộc sống vất vả, cô đơn nơi quê nhà. Bà sống một mình trong căn nhà cũ kỹ, ngày ngày vẫn mặc bộ áo cũ, làm lụng vất vả để kiếm sống. Bà không oán trách con trai đã quên mình, mà ngược lại, luôn tự trách bản thân quê mùa, không giúp gì được cho con. Bà chấp nhận sự cô đơn, thiếu thốn để con được học hành, thành đạt ở thành phố.
Lòng vị tha của người mẹ thể hiện qua sự bao dung, tha thứ cho những lỗi lầm của con. Bà không trách Tâm đã bỏ bê mình suốt sáu năm, mà vẫn vui mừng khi con trở về. Bà cảm động đến rơi nước mắt khi Tâm hỏi thăm sức khỏe. Bà trân trọng những đồng tiền Tâm cho, dù biết rằng đó chỉ là sự bố thí, ban ơn. Sự vị tha của người mẹ là vô bờ bến, không gì có thể sánh bằng.
Tóm lại, nhân vật người mẹ trong đoạn trích là một hình tượng đẹp, tiêu biểu cho những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam. Bà là biểu tượng của tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt, là nguồn động viên, an ủi lớn lao cho mỗi người con trên đường đời.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản là biểu cảm.
Câu 2.
Hai lối sống mà con người đã từng đôi lần trải qua được tác giả nêu trong đoạn trích là:
- Khước từ sự vận động, tìm quên trong những giấc ngủ vùi, tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động.
- Bỏ quên những khát khao dài rộng, bải hoải trong tháng ngày chật hẹp.
Câu 3.
Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.”:
- So sánh: “Sông như đời người”, “Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng” - Biện pháp so sánh giúp người đọc hình dung rõ hơn về mối tương quan giữa dòng sông và cuộc đời con người, giữa tuổi trẻ và khát vọng vươn xa. Qua đó, nhấn mạnh ý chí, khát vọng sống và cống hiến của mỗi người.
- Ẩn dụ: “Sông phải chảy” - Ẩn dụ cho sự vận động, phát triển không ngừng của cuộc sống và con người.
Câu 4.
“Tiếng gọi chảy đi sông ơi” được nhắc đến trong câu văn: “Không thể thế bởi mỗi ngày ta phải bước đi như nghe trong mình tiếng gọi chảy đi sông ơi.” được hiểu là:
- Lời thôi thúc từ bên trong mỗi người, thôi thúc ta không ngừng vận động, phát triển, vượt qua giới hạn của bản thân.
- Khát vọng được sống một cuộc đời ý nghĩa, được cống hiến và trải nghiệm.
- Ý thức về trách nhiệm của mỗi con người
Câu 5. Bài học rút ra từ nội dung văn bản:
Không ngừng vận động và phát triển: Tuổi trẻ cần phải không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng, khám phá thế giới xung quanh để phát triển bản thân. Sống có mục tiêu và khát vọng: Mỗi người cần xác định mục tiêu sống rõ ràng và nuôi dưỡng khát vọng vươn lên, cống hiến cho xã hội.Vượt qua khó khăn và thử thách: Cuộc sống luôn có những khó khăn, thử thách, nhưng chúng ta cần phải mạnh mẽ vượt qua để đạt được thành công