Trần Thị Sen

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thị Sen
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 2

Chủ đề văn bản là ca ngợi tấm lòng tử tế cách hành xử tế nhị của nhân vật em bé . Phê phán sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội

Câu 1

Thể loại của văn bản là truyện ngắn

Câu 3

Cốt truyện đa tuyến

Câu 5

Nội dung của văn bản là nói về tình bạn thắm thiết gắn kết giữa em và bích là tình bạn đẹp thấu hiểu sẻ chia niềm vui buồn cùng nhau thể hiện tình bạn đáng quý, đáng trân trọng

Câu 4

Bích và em bé


Câu 1:

Trong truyện ngắn Áo tết, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa một cách nhẹ nhàng, chân thật tình bạn trong sáng, giản dị giữa hai cô bé Bích và Em. Tình bạn ấy không chỉ được xây dựng trên nền tảng của sự đồng cảm và sẻ chia mà còn là lòng vị tha và tình yêu thương chân thành. Qua sự đan xen điểm nhìn trần thuật của cả hai nhân vật, tác giả giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc hơn suy nghĩ và cảm xúc của từng người. Với bé Em, dù có hoàn cảnh khá giả hơn, em vẫn chọn cách gần gũi và thân thiện với Bích. Đặc biệt, việc Em quyết định không mặc bộ đầm hồng đẹp nhất vào dịp Tết vì không muốn bạn mình thấy thua thiệt đã thể hiện sự trân trọng và đồng cảm sâu sắc. Ngược lại, từ góc nhìn của Bích, ta thấy sự thấu hiểu và quý mến mà cô bé dành cho Em, không hề ghen tị mà rất chân thành, trong sáng. Sự đan xen trong điểm nhìn trần thuật này khiến câu chuyện thêm phần sâu lắng, làm nổi bật vẻ đẹp của tình bạn vượt lên trên những khác biệt về hoàn cảnh. Từ đó, truyện ngắn truyền tải bài học quý giá về tình bạn: khi có lòng chân thành, sự thấu hiểu và trân trọng, tình bạn sẽ trở nên bền chặt và ý nghĩa.

Câu 2:

Mahatma Gandhi đã từng nói: "Tài nguyên thiên nhiên không phải là di sản của tổ tiên chúng ta, mà là sự vay mượn từ các thế hệ tương lai." Câu nói này đã khẳng định sâu sắc tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên và trách nhiệm của con người trong việc sử dụng chúng. Thật vậy, tài nguyên thiên nhiên không chỉ là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của con người mà còn là yếu tố quyết định sự bền vững của môi trường sống và nền văn minh nhân loại. Từ đó, nhận thức về việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên không chỉ là bảo vệ cuộc sống hiện tại mà còn là bảo vệ tương lai của các thế hệ mai sau.

Trước hết, tài nguyên thiên nhiên có vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người. Nước, không khí, đất đai, khoáng sản, và năng lượng là những tài nguyên không thể thiếu để duy trì sự sống và phát triển xã hội. Nước cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt, tưới tiêu, và công nghiệp; rừng không chỉ cung cấp gỗ và các sản phẩm từ gỗ mà còn điều hòa không khí, bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học; đất đai là nền tảng cho hoạt động nông nghiệp, cung cấp lương thực cho con người. Ngoài ra, các nguồn tài nguyên khoáng sản như dầu mỏ, than đá, và kim loại là nguồn năng lượng và nguyên liệu quan trọng trong sản xuất và phát triển kinh tế. Nếu không có tài nguyên thiên nhiên, con người không thể tồn tại và phát triển như ngày nay.

Tuy nhiên, thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Hoạt động khai thác quá mức các nguồn tài nguyên, chặt phá rừng bừa bãi, ô nhiễm nguồn nước và không khí đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề đối với môi trường và hệ sinh thái. Việc làm này không chỉ đe dọa đến sự sống của các loài động thực vật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của con người. Bên cạnh đó, sự cạn kiệt tài nguyên cũng đẩy nhân loại vào tình trạng khủng hoảng năng lượng và nguy cơ mất cân bằng sinh thái, khiến cho việc phát triển bền vững trở nên khó khăn hơn.

Để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo sự phát triển bền vững cho các thế hệ tương lai, chúng ta cần thực hiện những biện pháp hiệu quả và hợp lý. Trước tiên, giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cần được đưa vào các chương trình giáo dục từ bậc tiểu học đến đại học. Khi nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên, con người sẽ tự giác hơn trong việc sử dụng và bảo vệ chúng. Thứ hai, cần thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, gió, và nước để giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên không tái tạo như dầu mỏ, than đá. Ngoài ra, việc quản lý và khai thác tài nguyên thiên nhiên cần được thực hiện một cách bền vững, không gây hại đến môi trường và đảm bảo sự cân bằng sinh thái. Các chính sách và quy định về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cũng cần được ban hành và thực thi nghiêm ngặt, với những hình phạt thích đáng cho những hành vi vi phạm.

Tóm lại, tài nguyên thiên nhiên là yếu tố sống còn của con người và môi trường sống. Việc bảo vệ và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý không chỉ là trách nhiệm đối với cuộc sống hiện tại mà còn là trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Như lời Mahatma Gandhi, chúng ta đang "vay mượn từ các thế hệ tương lai," vì vậy hãy hành động ngay hôm nay để trả lại cho họ một hành tinh xanh sạch và bền vững. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể đảm bảo một cuộc sống an lành và phát triển bền vững cho tất cả mọi người.

Thúy Kiều là nhân vật trung tâm của truyện thơ, một thiếu nữ tài, sắc vẹn toàn đã được thi hào khắc họa một cách thần tình, mỹ lệ.

Trong bài thơ Kính gửi Cụ Nguyễn Du, nhà thơ Tố Hữu viết:

Tiếng thơ ai động đất trời,
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu.
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du,
Tiếng thơ như tiếng mẹ ru những ngày...

Nguyễn Du là nhà thơ thiên tài của dân tộc ta. Truyện Kiều là kiệt tác của nền thi ca cổ dân tộc sáng ngời tinh thần nhân đạo, về phương diện nghệ thuật, áng thơ này là mẫu mực tuyệt vời về ngôn ngữ, về tả cảnh, tả người, tả tình, tự sự v.v... đem lại cho nhân dân ta nhiều thú vị văn chương.

Đoạn thơ giới thiệu chị em Thúy Kiều là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trong Truyện Kiều. Thúy Kiều là nhân vật trung tâm của truyện thơ, một thiếu nữ tài, sắc vẹn toàn đã được thi hào khắc họa một cách thần tình, mĩ lệ.

Đoạn thơ gồm 24 câu: 4 câu đầu giới thiệu chung hai chị em Kiều là hai ả tố nga của ông bà Vương Viên ngoại, 4 câu tiếp theo nói về sắc đẹp Thúy Vân, 12 câu tiếp theo nói về tài sắc Thúy Kiều, 4 câu cuối đoạn ca ngợi đức hạnh của hai chị em Kiều.

Hai chị em Kiều mang vẻ đẹp thanh tao, trinh trắng như "mai", như tuyết", mỗi người một vẻ đẹp riêng, toàn thiện, toàn mỹ:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.

Sắc đẹp của Thúy Vân là sắc đẹp của một thiếu nữ "đoan trang", "trang trọng khác vời"- rất quý phái: khuôn mặt "đầy đặn" tươi sáng như vầng trăng, mắt phượng mày ngài, miệng cười tươi như hoa, giọng nói trong như ngọc.. Còn gì đẹp hơn về mái tóc, màu da của nàng? - "Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da". Nhà thơ đã sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng để miêu tả sắc đẹp Thúy Vân, tạo nên những hình ảnh ẩn dụ đầy gợi cảm. Tả Thúy Vân trước, tả Thúy Kiều sau là một dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du để khẳng định Kiều là một giai nhân tuyệt thế:

Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.

Dung nhan Thúy Kiều đẹp lắm "nghiêng nước nghiêng thành". Mắt đẹp trong như sắc nước mùa thu, lông mày thanh tú xinh xắn như dáng núi mùa xuân; một vẻ đẹp đằm thắm, xanh tươi mơn mởn khiến cho "Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh". Ngòi bút tả người của thi hào biến hóa, đa dạng: kết hợp thần tình các biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa, thậm xứng với sự vận dụng tinh tế thi liệu cổ (nghiêng nước nghiêng thành) tạo nên những vần thơ đẹp gợi cảm. Hình bóng giai nhân được phác họa đôi ba nét chấm phá ước lệ nhưng hết sức thần tình, để lại cho người đọc bao cảm xúc, trân trọng:

Làn thu thủy, nét xuân sơn.
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành.

Hóa công như đã ưu đãi dành cho Kiều tất cả "Sắc đành đòi một, tài đành họa hai". Thông minh bẩm sinh "tính trời", tài hoa lỗi lạc xuất chúng: thơ tài, tài họa giỏi, đàn hay; môn nghệ thuật nào nàng cũng tuyệt giỏi, cũng thành "nghề", "ăn đứt" thiên hạ:

Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.

Nguyễn Du đã không tiếc lời ca ngợi Thúy Kiều bằng một số từ ngữ biểu thị giá trị tuyệt đối: vốn sẵn tính trời, pha nghề, đủ mùi... lầu bậc... nghề riêng ăn đứt...

Khi tả tài sắc Thúy Kiều, thi hào không chỉ nói lên cái tuyệt vời của hiện tại mà còn hàm ý dự báo về tương lai của nàng, sắc đẹp kiều diễm "hoa ghen... liễu hờn...” với bản đàn "Bạc mệnh" mà nàng sáng tác ra "lại càng não nhân" như gợi ra trong tâm hồn chúng ta một ám ảnh "định mệnh" mà nhà thơ đã khẳng định: "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen",... "Chữ tài liền với chữ tai một vần",... Gần hai thế kỷ nay, bức chân dung giai nhân này qua đoạn thơ Chị em Thúy Kiều đã để lại trong trái tim hàng triệu con người Việt Nam một sự cảm mến nồng hậu, một sự phấp phỏng lo âu đối với người con gái đầu lòng của Vương ông. Đó là tài năng đích thực của Nguyễn Du về nghệ thuật tả người.

Đức hạnh là cái gốc của con người. Thúy Kiều không chỉ có tài sắc mà còn có đức hạnh. Nàng được hưởng một nền giáo dục theo khuôn khổ của lễ giáo, của gia phong. Tuy sống trong cảnh "phong lưu rất mực hồng quần", đã tới "tuần cập kê" nhưng nàng là một thiếu nữ có gia giáo, đức hạnh:

Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

Tóm lại, Thúy Kiều là một nhân vật tuyệt đẹp trong Đoạn trường tân thanh. Thi hào Nguyễn Du với cảm hứng nhân đạo và tài nghệ thơ ca trác việt miêu tả Thúy Kiều bằng những vần thơ lục bát đẹp nhất. Ông đã dành cho nhân vật bao tình cảm yêu mến, trân trọng sâu sắc. Sự kết hợp tài tình bút pháp ước lệ tượng trưng, sử dụng sáng tạo các biện pháp tu từ, nhất là ẩn dụ so sánh, một ngôn ngữ thơ tinh luyện, hàm súc, hình tượng và gợi cảm để vẽ nên bức chân dung mỹ nhân bằng thơ sáng giá nhất trong nền văn học cổ nước nhà. Thúy Kiều mang một "lí lịch" ngoại tộc nhưng dưới ngòi bút thiên tài của thi hào Nguyễn Du, nàng xuất hiện với bao phẩm chất tốt đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc. Vẻ đẹp nhân văn toát lên từ hình ảnh Thúy Kiều là vẻ đẹp văn chương của đoạn thơ này.


Câu 2:

Cuộc đời tựa như một viên đá, chính bạn là người quyết định để viên đá ấy bám rong rêu hay trở thành viên ngọc sáng." Để có thể trở thành "viên ngọc sáng", sống một cuộc đời rực rỡ, mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ thanh niên, cần có lý tưởng sống.  Lý tưởng sống hay lẽ sống là cái đích cuộc sống mà mỗi người khát khao muốn đạt được. Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động không mệt mỏi để thể hiện lý tưởng sống, vì sự tiến bộ của bản thân và xã hội, luôn vươn tới sự hoàn thiện bản thân về mọi mặt, mong muốn cống hiến trí tuệ và sức lực cho sự phát triển chung của nhân loại. Lý tưởng cao đẹp của tuổi trẻ ngày nay là phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tuổi trẻ cần phải ra sức học tập, rèn luyện để có đủ tri thức, phẩm chất và năng lực cần thiết nhằm thực hiện lý tưởng đó. Tuổi trẻ là thế hệ tương lai của đất nước, những người sẽ kế bước cha anh gánh vác nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bởi thế, xây dựng và sống theo lý tưởng là một điều vô cùng cần thiết. Khi lý tưởng mỗi người phù hợp với lý tưởng chung của dân tộc, của đất nước thì hành động của họ sẽ góp phần thực hiện tốt những nhiệm vụ chung, được mọi người tin yêu và tôn trọng. Nếu sống thiếu lý tưởng, sống không có ước mơ hoài bão, cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt, dễ rơi vào cạm bẫy, không có cơ hội để phát triển khả năng của mình. Lý tưởng sống không sẵn có, mà nó cần được rèn luyện, nuôi dưỡng từng ngày, Tuổi trẻ muốn xây dựng lý tưởng sống, cần phải năng động, sáng tạo và làm việc có hiệu quả cao, phấn đấu vươn lên trong cuộc sống. Bên cạnh đó, thanh niên cần trung thực, dũng cảm, đấu tranh loại trừ những điều tiêu cực khỏi cuộc sống. Đồng thời, thế hệ trẻ hôm nay phải biết ơn những lớp người đi trước, người có công dựng nước và giữ nước để ta có được cuộc sống hôm nay. Ngày nay, có rất nhiều bạn trẻ sống không có lý tưởng, chạy theo những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội, có thái độ thờ ơ, vô cảm với mọi người, mọi việc xung quanh. Đây là một hiện tượng đáng phê phán và chê trách, đồng thời cũng gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh thanh niên về lý tưởng sống cao đẹp.  Một năm khởi đầu bằng mùa xuân, đời người khởi đầu bằng tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của đất nước. Nếu tuổi trẻ mà không có lý tưởng thì không thể làm được gì lớn lao. Chính vì thế hãy xây dựng cho mình một lý tưởng sống để cuộc sống tốt đẹp và ý nghĩa hơn. 

Câu 1 : thuộc thể thơ lục bát

Câu 4: cảm hứng chủ đạo trong văn bản là sự đồng cảm xót thương trước khát vọng hạnh phúc nhỏ nhoi mà mong manh bấp bênh nhiều trắc trở của nàng kiều

Câu5: đặt nhan đề

Thúc sinh từ biệt thúy kiều

Câu2: kể về sự chia ly

Thành công của cuộc tái thiết và phát triển kinh tế của chính phủ nhật bản

Tập trubg phát truển nghành kinh tế số

Nền kt phát triển ở trình độ cao

Số dân đông tạo cho Nhật Bản có một thị trường tiêu thụ nội địa mạnh.

- Cơ cấu dân số già gây ra sự thiếu hụt về lực lượng lao động trong tương lai, tạo ra sức ép lên hệ thống phúc lợi xã hội và giảm khả năng cạnh tranh kinh tế của Nhật Bản.

- Dân cư tập trung với mật độ cao ở các vùng đô thị cũng nảy sinh các vấn đề về nhà ở, việc làm...


Học trực tuyếnTT

Trung Quốc có địa hình và đất đai đa dạng, có thể chia thành hai miền chính:

* Miền Tây:

* Địa hình chủ yếu là núi cao, sơn nguyên đồ sộ, xen kẽ với các bồn địa và hoang mạc lớn.

* Đất đai chủ yếu là đất xám hoang mạc và bán hoang mạc.

* Miền Đông:

* Địa hình đa dạng hơn, bao gồm đồng bằng châu thổ rộng lớn, đồi núi, và các vùng ven biển.

* Các đồng bằng châu thổ lớn như: đồng bằng Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Trung và Hoa Nam.

* Đất đai ở miền đông màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.

Ngoài ra, địa hình Trung Quốc còn có đặc điểm cao dần từ tây sang đông, tạo ra sự khác biệt lớn về khí hậu và cảnh quan giữa hai miền.


Đặc điểm dân cư Nhật Bản:

Dân số: Nhật Bản có dân số khoảng 126 triệu người (tính đến 2023), chủ yếu là người Nhật Bản, với tỷ lệ dân số già cao.

Cơ cấu dân số: Nhật Bản có tỷ lệ người già (trên 65 tuổi) chiếm hơn 28%, trong khi tỷ lệ người trẻ tuổi giảm sút.

Đô thị hóa cao: Khoảng 90% dân cư sinh sống ở các thành phố, với Tokyo là thủ đô và là một trong những thành phố lớn nhất thế giới.

Tỷ lệ sinh thấp: Nhật Bản có tỷ lệ sinh thấp, khiến dân số giảm dần theo thời gian.

Ảnh hưởng của cơ cấu dân số đến sự phát triển kinh tế, xã hội:

Kinh tế:

Thiếu hụt lao động: Dân số già dẫn đến thiếu hụt lực lượng lao động, ảnh hưởng đến năng suất lao động và tốc độ phát triển kinh tế.

Tăng chi phí chăm sóc sức khỏe: Tỷ lệ người già cao làm tăng chi phí y tế và chăm sóc người cao tuổi, gây áp lực lên ngân sách quốc gia.

Khó khăn trong phát triển ngành sản xuất: Với lực lượng lao động giảm, các ngành sản xuất gặp khó khăn trong việc duy trì sự tăng trưởng.

Xã hội:

Biến đổi xã hội: Dân số già gây ra sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, gia tăng sự phụ thuộc của người cao tuổi vào hệ thống an sinh xã hội.

Thiếu hụt nguồn nhân lực trẻ: Cơ cấu dân số già khiến đất nước đối mặt với vấn đề thiếu nguồn nhân lực trẻ để tiếp nối và phát triển các ngành nghề, cũng như duy trì sự sáng tạo và đổi mới.

Cải cách và chính sách: Chính phủ Nhật Bản đã phải thực hiện nhiều cải cách về chính sách lao động, gia đình và nhập cư để giải quyết những vấn đề này.