Nguyễn Hoàng Khánh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hoàng Khánh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Chinh phụ ngâm là tác phẩm tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, do Đặng Trần Côn sáng tác bằng chữ Hán, bản dịch thơ Nôm nổi tiếng của Đoàn Thị Điểm đã đưa tác phẩm đến gần với người đọc. Đoạn trích thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn, sầu khổ, thương nhớ của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến phương xa. Bằng nghệ thuật đặc sắc, tác giả đã diễn tả tinh tế tâm trạng của người phụ nữ trong cảnh chia ly.

Đoạn trích là tiếng lòng thổn thức của người chinh phụ khi phải sống trong cảnh cô quạnh, mỏi mòn chờ đợi. Nàng ngóng tin chồng, thất vọng khi “tin sương vắng vẻ”, chỉ biết đối diện với ngọn đèn và bóng mình. Tình yêu và nỗi nhớ khiến nàng bồn chồn, khắc khoải, lúc mong chờ, lúc tuyệt vọng, nhưng trong sâu thẳm vẫn nuôi hi vọng đoàn tụ. Cảm xúc ấy được thể hiện chân thực, tinh tế qua những nét nghệ thuật đặc sắc.

Trước hết, thể thơ song thất lục bát với nhịp điệu uyển chuyển, nhạc tính phong phú đã diễn tả dòng tâm trạng dạt dào, trầm buồn của người chinh phụ. Cấu trúc câu thơ dài ngắn xen kẽ như những đợt sóng cảm xúc lúc dâng trào, lúc lắng đọng. Tác giả còn khéo léo sử dụng từ láy (“thăm thẳm”, “thoi thót”, “chập chờn”…), điệp ngữ (“buồn trông”, “ngẩn ngơ”) và các hình ảnh ước lệ tượng trưng (ngọn đèn, rèm sầu, hoa trôi, mây nổi) để cụ thể hóa nỗi buồn. Cảnh vật được nhân hóa, mang tâm trạng con người, gợi nên bức tranh buồn thương thấm đẫm tâm tư. Ngoài ra, ngôn ngữ thơ tinh tế, uyển chuyển, giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng góp phần tạo nên âm hưởng man mác, da diết cho toàn đoạn trích.

Bằng nghệ thuật biểu hiện tinh tế, nhạc điệu phong phú của thể thơ song thất lục bát và ngôn ngữ giàu sức gợi, đoạn trích Chinh phụ ngâm đã thể hiện trọn vẹn nỗi cô đơn, thương nhớ của người phụ nữ trong chiến tranh. Tác phẩm không chỉ có giá trị thẩm mĩ cao mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: cảm thông với thân phận người phụ nữ và tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi hạnh phúc con người. Đọc Chinh phụ ngâm, ta càng thêm trân trọng cuộc sống hòa bình và thấu hiểu giá trị của tình yêu, tình nghĩa vợ chồng.



Sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích cho thấy khát vọng tìm về cõi tự do, thanh thản sau khi không thể hòa nhập với cuộc sống trần gian. Tuy nhiên, qua đó, tác giả cũng gửi gắm một thông điệp nhân sinh sâu sắc: **con người dù có được sống nơi tiên cảnh, hưởng vinh hoa phú quý đến đâu, vẫn không thể thoát khỏi nỗi nhớ quê hương, nguồn cội và cuộc sống trần thế**. Từ Thức rời tiên giới trở về không phải vì chán tiên cảnh mà vì lòng thương nhớ nhân gian, nhưng khi trở lại, chàng lại thấy mình lạc lõng, cô đơn, không còn chốn dung thân. Hành trình ấy thể hiện khát vọng muôn đời của con người: luôn hướng về nơi mình thuộc về, về tình cảm quê hương, gia đình và những giá trị nhân bản của cuộc sống trần gian.

Câu 1

Sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích — “Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất” — thể hiện khát vọng thoát khỏi thực tại trần tục để tìm đến một thế giới khác, nơi tâm hồn được tự do và thanh thản. Sau khi trở về trần gian, Từ Thức nhận ra mọi thứ đều đã đổi thay: thời gian trên tiên giới chỉ thoáng chốc nhưng ở trần gian đã là hàng trăm năm, người thân, bạn bè đều không còn, cảnh cũ người xưa chẳng thể tìm lại. Cảm giác lạc lõng, cô đơn, bất lực khiến chàng không thể hòa nhập với cuộc sống thực. Vì thế, Từ Thức chọn cách ra đi vào núi Hoành Sơn – đó vừa là hành động trốn tránh thực tại, vừa là cách chàng tìm đến cõi siêu thoát, hòa mình với thiên nhiên để giữ gìn sự trong sạch của tâm hồn. Sự ra đi ấy mang đậm màu sắc lãng mạn, thể hiện ước mơ thoát tục và khát vọng tự do của con người trong xã hội phong kiến đầy giả dối, bon chen.


Câu 1.

Người chinh phụ trong *Chinh phụ ngâm* là hình tượng tiêu biểu cho nỗi cô đơn, buồn tủi và khắc khoải đợi chờ của người phụ nữ có chồng ra trận. Khi chồng ra đi chinh chiến nơi biên ải xa xôi, nàng ở lại với nỗi nhớ mong khôn nguôi. Mỗi ngày trôi qua, nàng dõi trông tin chồng, nhưng chỉ nhận lại “tin sương vắng vẻ”. Hình ảnh người chinh phụ “dạo hiên vắng”, “buông rèm”, “thắp đèn”... gợi nên tâm trạng cô đơn, bồn chồn, lo lắng và bất lực. Nàng tìm đến ngọn đèn để trò chuyện, gửi gắm nỗi nhớ thương, nhưng ngọn đèn cũng chỉ là vật vô tri, chẳng thể chia sẻ niềm đau. Những hành động tưởng như nhỏ bé ấy lại chứa chan tình yêu thương sâu nặng, sự thủy chung son sắt của người vợ dành cho chồng. Qua nhân vật người chinh phụ, tác giả đã khắc họa nỗi khổ của người phụ nữ trong chiến tranh – phải chịu cảnh chia lìa, cô độc và héo mòn trong chờ đợi. Đồng thời, tác phẩm cũng thể hiện tiếng nói nhân đạo sâu sắc, lên án chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi hạnh phúc của con người.

Câu 2.

Chiến tranh từ lâu đã trở thành nỗi ám ảnh lớn của nhân loại. Đọc *Chinh phụ ngâm*, ta bắt gặp hình ảnh người vợ mòn mỏi chờ chồng nơi biên ải xa xôi – một biểu tượng của những đau thương, mất mát mà chiến tranh mang lại. Từ đó, ta càng thấm thía giá trị của hòa bình và trách nhiệm của mỗi người trong việc gìn giữ cuộc sống yên bình hôm nay.

Chiến tranh là cuộc xung đột vũ trang giữa các quốc gia hay phe phái, gây nên những hậu quả nặng nề về người và của. Mất mát, đau thương do chiến tranh không chỉ là sự hi sinh xương máu của những người lính mà còn là nỗi khổ chia ly của bao gia đình nơi hậu phương. Biết bao bà mẹ mất con, bao người vợ mòn mỏi chờ chồng, bao trẻ thơ mồ côi, bao mái nhà hóa thành tro bụi. Chiến tranh còn để lại những vết thương tinh thần sâu sắc và lâu dài, khiến con người sống trong ám ảnh, sợ hãi, bất an. Không chỉ vậy, chiến tranh còn hủy hoại môi trường, tàn phá kinh tế, kìm hãm sự phát triển của nhân loại.

Nhìn lại lịch sử dân tộc, Việt Nam ta từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược đầy gian khổ, mất mát. Ngày nay, trên thế giới vẫn còn đó tiếng súng, bom đạn ở nhiều nơi như dải Gaza, Ukraina... Tất cả khiến chúng ta càng hiểu rằng hòa bình là điều quý giá và không dễ có được.

Thế hệ trẻ hôm nay được sinh ra trong hòa bình, càng phải biết trân trọng thành quả ấy. Mỗi người cần nhận thức rõ giá trị của cuộc sống yên bình, sống nhân ái, khoan dung, biết yêu thương và sẻ chia. Thanh niên phải nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh – vì chỉ có một đất nước vững vàng mới có thể bảo vệ được hòa bình. Bên cạnh đó, chúng ta cần lan tỏa thông điệp nhân văn, phản đối chiến tranh, bạo lực, hướng đến một thế giới an lành, hạnh phúc.

Chiến tranh là bóng tối hủy diệt, còn hòa bình là ánh sáng của sự sống. Mỗi chúng ta – đặc biệt là thế hệ trẻ – hãy sống có trách nhiệm, yêu thương con người và trân quý từng ngày hòa bình, để những nỗi đau như người chinh phụ năm xưa mãi mãi không còn lặp lại.




Câu 1. (2,0 điểm)

Nhân vật Hữu Chi trong truyện Chuyện Lý tướng quân là hình ảnh tiêu biểu cho con người bị lòng tham làm cho mờ mắt, đánh mất nhân tính và phải nhận kết cục bi thảm. Ban đầu, Hữu Chi là một viên tướng có tài, được vua trọng dụng, có quyền thế và địa vị trong triều. Tuy nhiên, thay vì lấy đó làm động lực để phục vụ đất nước, ông lại ngày càng tham lam, vơ vét của cải, nhận hối lộ, chiếm đoạt tài sản của dân. Lòng tham vô độ khiến Hữu Chi đánh mất danh dự, nhân cách, trở thành kẻ ích kỉ và tàn nhẫn. Chính vì không biết điểm dừng, ông phải nhận hậu quả nặng nề – bị trời đất, nhân dân và cả lương tâm trừng phạt. Hình tượng Hữu Chi là lời cảnh tỉnh sâu sắc: con người nếu để lòng tham chi phối thì dù có quyền lực, giàu sang đến đâu cũng không tránh khỏi sa ngã và bị hủy diệt. Nhân vật này góp phần khẳng định bài học đạo đức muôn đời – phải biết sống liêm khiết, biết đủ, biết dừng đúng lúc để giữ gìn nhân phẩm và hạnh phúc.

Câu 2. (4,0 điểm)

Lòng tham là một trong những bản năng vốn có của con người, song khi vượt quá giới hạn, nó trở thành nguồn gốc của mọi bi kịch trong cuộc sống. Câu chuyện về Lý Hữu Chi trong Chuyện Lý tướng quân chính là minh chứng rõ ràng: vì tham lam vô độ, không biết điểm dừng, ông đã phải nhận sự trừng phạt đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần.

Trong đời sống hôm nay, lòng tham vẫn hiện diện dưới nhiều hình thức: tham lam vật chất dẫn đến tham nhũng, lừa đảo; tham danh, tham quyền khiến con người sẵn sàng chà đạp đạo lý; tham điểm, gian lận trong học tập để có thành tích ảo... Lòng tham khiến con người trở nên ích kỉ, mất nhân tính, đánh mất niềm tin của người khác và tự đẩy mình vào cô độc, tội lỗi. Xã hội có nhiều người tham lam sẽ trở nên bất công, hỗn loạn và suy đồi về đạo đức. Thực tế cho thấy, không ít người vì tham mà vướng vòng lao lý, mất danh dự, thậm chí đánh đổi cả cuộc đời.

Để hạn chế thói tham lam, trước hết mỗi cá nhân cần rèn luyện lối sống biết đủ, biết trân trọng những gì mình có. Giáo dục đạo đức, đặc biệt là cho giới trẻ, cần được chú trọng để hình thành ý thức trung thực, nhân ái, liêm khiết. Gia đình và nhà trường phải là môi trường giúp con người hiểu rằng giá trị thật không nằm ở của cải vật chất mà ở nhân cách và sự cống hiến. Đồng thời, xã hội cần có cơ chế minh bạch, công bằng để ngăn chặn những hành vi tham lam và khuyến khích lối sống trong sạch.

Tóm lại, lòng tham nếu không được kiểm soát sẽ hủy hoại cả con người lẫn xã hội. Mỗi chúng ta hãy học cách biết đủ, sống trung thực và hướng thiện để cuộc đời trở nên ý nghĩa, trong sạch và hạnh phúc hơn.



Câu 1.

Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì.

Câu 2.

Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.

Câu 3.

− Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.

− Đặc điểm nhân vật: Dữ tợn, tham lam, độc ác, ích kỉ, bạo ngược, coi thường đạo lí.

Câu 4.

+ Chi tiết kì ảo: Thúc Khoản xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn.  

+ Tác dụng:

   ++ Làm tăng thêm sức hấp dẫn, li kì cho truyện.

   ++ Nhấn mạnh luật nhân quả, sự công minh của "lưới trời", qua đó thể hiện chủ đề, tư tưởng của truyện và nhấn mạnh đạo lí ở hiền gặp lành, ác giả ác báo.

Câu 5.

– Ý nghĩa văn bản: Qua truyện Chuyện Lý tướng quân, truyện không chỉ lên án, tố cáo Lý tướng quân đã lạm quyền mà trở nên tàn ác, tham lam, coi thường đạo lí, làm nhiều chuyện ác mà còn từ chính câu chuyện ấy, khẳng định sự công minh của "lưới trời", nhấn mạnh lối sống "ác giả ác báo, thiện giả thiện báo".

– Rút ra cho mình bài học, đó bài học về việc sống lương thiện, công bằng, chính trực

Câu 1.

Thông tin chính tác giả muốn truyền tải qua văn bản này là giải thích được một số hiện tượng liên quan đến bão, đồng thời cung cấp thông tin về khái niệm, nguyên nhân hình thành và tác hại của bão

Câu 2

"Tuy bão có sức phá huỷ lớn, nhưng trái ngược với nó, mắt bão là một vùng có thời tiết đa phần là bình yên, điều này làm cho mắt bão là nơi có gió không lớn, trời quang mây tạnh. Bao quanh mắt bão là những xoáy thuận nhiệt đới hay còn gọi là bão, tại đây những xoáy thuận chuyển động với tốc độ cao, bao bọc mắt bão và không cho không khí lọt vào"

Có thể thấy theo tác giả, bão là 1 hiện tượng cực đoan nhưng mắt bão lại là 1 nơi khá yên bình

Câu 3

a. Thành phần biệt lập là: Mắt bão lỗ kim

b. Kiểu câu là: Câu cảm thán vì thể hiện cảm xúc, nỗi buồn, sự tiếc nuối.

Câu 4

Tác giả triển khai thông tin bằng cách phân chia rõ ràng thành hai nguyên nhân: khách quan(tự nhiên) và chủ quan(con người)

Tác dụng giúp người đọc dễ hiểu, dẽ nhớ có tính trực quan và toàn diện

Câu 5

Phương tiện phi ngôn ngữ (hình ảnh) như là hình ảnh minh hoạ giúp người đọc có thể dễ dàng hình dung 1 cách trực quan, sinh động hơn về hiện tượng bão

Câu 6

Với góc nhìn của 1 người trẻ, thì để hạn chế hậu quả nghiêm trọng của bão gây ra chúng ta cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân góp phần giảm thiểu việc biến đổi khí hậu xảy ra(một trong những nguyên nhân khiến bão trờ nên mạnh hơn).Bên cạnh đó cần phải tăng cường việc trồng cây, gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. Biết cách sử dụng năng lượng hợp lí, hiệu quả và biết cách xử lí rác thải hiệu quả trách tối đa việc gây ô nhiễm môi trường.Chúng ta cũng cần trang bị cho mình những kiến thức, lưu ý cần thiết khi có thiên tai xảy ra giúp bảo vệ bảo thân và những người xung quanh khi xảy ra thiên tai.Ngoài ra việc truyên truyền về những hậu quả của thiên tai mang lại cho mọi người xung quanh cũng là 1 điều rất quan trọng.Chỉ khi tất cả mọi người đều có ý thức về việc phòng ngừa thiên tai thì chúng ta mới có thể giảm thiểu hậu quả mà thiên tai mang lại