Nguyễn Tuấn Kiệt

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Tuấn Kiệt
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Kì nghỉ hè năm ngoái, em được cùng gia đình đi tham quan thành Xương Giang – một di tích lịch sử nổi tiếng ở thành phố Bắc Giang. Đây là nơi ghi dấu chiến thắng oanh liệt của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh vào thế kỉ XV. Chuyến đi ấy đã để lại trong em nhiều kỉ niệm và ấn tượng sâu sắc.

Buổi sáng hôm đó, thời tiết thật đẹp, trời trong xanh và gió nhẹ. Cả nhà em khởi hành từ sớm. Khi đến nơi, em nhìn thấy khu di tích Thành Xương Giang hiện lên cổ kính và uy nghiêm giữa lòng thành phố. Những bức tường thành được phục dựng, cổng đền khắc ghi chiến công của cha ông khiến em cảm thấy vô cùng tự hào. Bên trong khu di tích có đền thờ các tướng lĩnh nghĩa quân Lam Sơn như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn… Bố mẹ em kể lại cho em nghe về trận Xương Giang – nơi quân ta đã tiêu diệt đạo quân cứu viện của giặc Minh, mở đường cho thắng lợi hoàn toàn của cuộc khởi nghĩa.

Đi dạo quanh khu di tích, em còn được xem những tấm bia, những bức phù điêu kể lại lịch sử oanh liệt của dân tộc. Em cảm nhận được tinh thần chiến đấu kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn của cha ông ta thuở trước. Trước đền thờ, cả nhà em thắp nén hương tưởng nhớ công ơn những anh hùng đã hi sinh vì độc lập dân tộc.

Chuyến đi tham quan thành Xương Giang đã giúp em hiểu thêm về lịch sử hào hùng của quê hương Bắc Giang và bồi đắp trong em lòng biết ơn, niềm tự hào dân tộc. Em thầm hứa sẽ cố gắng học thật giỏi để xứng đáng với thế hệ cha ông đã ngã xuống cho đất nước hôm nay.


Niềm hi vọng là ánh sáng soi đường cho con người trong những lúc khó khăn, thử thách của cuộc sống. Khi mọi thứ trở nên u ám, chỉ cần một tia hi vọng nhỏ bé cũng có thể giúp ta có thêm sức mạnh để bước tiếp. Giống như tiếng pháo đùng trong câu thơ báo hiệu mùa xuân mới, hi vọng mang đến niềm tin rằng sau những ngày mưa lạnh, trời sẽ lại trong xanh. Người có hi vọng sẽ không dễ gục ngã trước thất bại, bởi họ tin rằng nỗ lực hôm nay sẽ đem lại kết quả tốt đẹp ngày mai. Chính vì thế, mỗi chúng ta cần nuôi dưỡng niềm hi vọng trong tim, để dám ước mơ, dám sống và vươn lên vượt qua mọi gian khó.

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ “Chợ Đồng”bâng khuâng, hoài niệm và man mác buồn.

Nguyễn Khuyến nhớ về phiên chợ Đồng cuối năm – một nét sinh hoạt truyền thống của quê hương xưa, nhưng nay đã không còn. Qua những câu hỏi như “Năm nay chợ họp có đông không?”, “Nếm rượu, tường đền được mấy ông?”, tác giả bộc lộ nỗi nhớ tiếc da diết về cảnh cũ, người xưa, về không khí rộn ràng ngày Tết quê hương.

Cảnh chợ được miêu tả có phần vắng vẻ, buồn bã, “hàng quán người về nghe xáo xác”, “nợ nần năm hết hỏi lung tung” – cho thấy sự đổi thay, mất mát của phong tục làng quênỗi cô đơn, lặng lẽ trong lòng nhà thơ.

→ Như vậy, tâm trạng của tác giả là nỗi buồn xen lẫn hoài niệm, nhớ thương da diết về cảnh cũ, người xưa và phong vị Tết quê hương đã phai nhạt theo thời gian.


Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về tình bạn chân thành, mộc mạc mà sâu sắc. Qua lời thơ giản dị, hóm hỉnh, tác giả đã thể hiện tấm lòng hiếu khách và tình bạn thắm thiết vượt lên trên mọi thiếu thốn vật chất.

Về nội dung, bài thơ mở đầu bằng lời chào mừng giản dị: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà”, gợi niềm vui mừng chân thành của người chủ khi gặp lại bạn cũ sau thời gian xa cách. Những câu thơ tiếp theo liệt kê hàng loạt cái “không có”: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa”, “Ao sâu nước cả, khôn chài cá”, “Cải chửa ra cây, cà mới nụ”… Tưởng như đó là lời than vãn về cảnh nghèo, nhưng ẩn chứa trong giọng thơ là sự hóm hỉnh, vui vẻ. Nguyễn Khuyến không lấy của ngon vật lạ đãi bạn, mà lấy chính tấm lòng chân thành làm quà. Đến cuối bài, câu thơ “Bác đến chơi đây, ta với ta” khép lại bằng một tình bạn thuần khiết, không vụ lợi, không hình thức – chỉ có hai tâm hồn tri kỷ đồng điệu.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng lời thơ lại tự nhiên, gần gũi như lời nói thường ngày. Giọng điệu hóm hỉnh, chân chất mang đậm phong vị dân gian. Cách dùng điệp cấu trúc liệt kê các cái “khó”, “không có” càng làm nổi bật niềm vui giản dị trong cảnh nghèo, đồng thời thể hiện tài nghệ sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, tinh tế của Nguyễn Khuyến.

Tóm lại, “Bạn đến chơi nhà” là bài thơ giàu tình cảm, giản dị mà sâu sắc. Qua hình ảnh người bạn và cuộc gặp gỡ mộc mạc, Nguyễn Khuyến đã gửi gắm quan niệm sống trọng tình nghĩa, coi tình bạn là niềm vui lớn lao nhất của đời người. Đây chính là nét đẹp nhân văn bền vững trong thơ ông, khiến tác phẩm mãi được yêu quý qua nhiều thế hệ.


Sống hòa hợp với thiên nhiên giúp con người cảm nhận được vẻ đẹp và nguồn sống dồi dào mà thiên nhiên ban tặng. Trong bài thơ “Chiều xuân ở thôn Trừng Mại”, con người hiện lên giữa cảnh mưa xuân, ruộng đồng, cây cối xanh tươi, tất cả hòa quyện tạo nên một bức tranh thanh bình, ấm áp. Khi sống gần gũi với thiên nhiên, con người thêm yêu lao động, biết trân trọng thành quả và thấy cuộc sống trở nên nhẹ nhõm, vui tươi hơn. Thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng con người về vật chất mà còn làm giàu tâm hồn, giúp con người sống an yên và hạnh phúc. Vì thế, sống hòa hợp với thiên nhiên là cách để con người giữ gìn môi trường, giữ gìn chính nguồn sống của mình.


Nhận xét về bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Chiều xuân ở thôn Trừng Mại”:

Bức tranh thiên nhiên hiện lên thanh bình, tươi đẹp và đậm màu sắc mùa xuân. Mưa xuân “phân phất xâm xẩm bay” làm cho cảnh vật thêm mềm mại, dịu nhẹ. Cánh đồng quê đầy sức sống với “mía cạnh giậu tre đang nảy ngọn”, “khoai trong đám cỏ đã xanh cây”. Mọi cảnh vật đều đang sinh sôi, nảy nở, biểu hiện rõ sức sống mới của mùa xuân. Xen lẫn trong khung cảnh ấy là hình ảnh con người lao động cần cù, hòa hợp với thiên nhiên, tạo nên một bức tranh làng quê Việt Nam yên bình, trù phú và đầy niềm vui.


a) Chứng minh \(A I K D\)\(B I K C\) là hình vuông

Chứng minh với \(A I K D\):

  • \(A B C D\) là hình chữ nhật nên \(A B \parallel D C\)\(A D \parallel B C\).
  • \(I\) là trung điểm của \(A B\)\(A I = I B = \frac{A B}{2}\)
  • \(K\) là trung điểm của \(D C\)\(D K = K C = \frac{D C}{2}\)

\(A B = D C\)\(A I = D K\)

  • Trong hình chữ nhật, các cạnh đối song song ⇒ \(A I \parallel D K\)\(A D \parallel I K\).
  • Xét tứ giác \(A I K D\), có:
    • Hai cặp cạnh đối song song.
    • \(A B \bot A D \Rightarrow A I \bot A D\)
    • \(A I K D\)hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau, nên là hình vuông.

Tương tự, \(B I K C\) cũng có hai cạnh kề bằng nhau và vuông góc ⇒ \(B I K C\) là hình vuông.


b) Chứng minh \(\triangle D I C\) vuông cân

\(I\)\(K\) lần lượt là trung điểm của \(A B\)\(D C\), mà \(A B = 2 B C\), ta có:

  • \(A I = \frac{A B}{2} = B C\)
  • \(A B C D\) là hình chữ nhật ⇒ \(A D = B C\)

Xét \(\triangle D I C\):

  • \(D I\) nối từ góc \(D\) đến trung điểm \(I\) của \(A B\)
  • \(D C \bot A D\), nên góc \(D\) của hình chữ nhật là \(90^{\circ}\)
  • Do cách dựng đối xứng, ta có \(D I = I C\) (tính theo tọa độ hoặc bằng cách chứng minh từ tứ giác \(A I K D\)\(B I K C\))

\(\triangle D I C\)tam giác vuông cân tại \(I\).


c) Gọi \(S , R\) lần lượt là tâm của các hình vuông \(A I K D\)\(B I K C\).

Chứng minh tứ giác \(I S K R\)hình vuông.

Giải:

  • Hai hình vuông \(A I K D\)\(B I K C\) đối xứng nhau qua trục \(I K\).
  • Tâm của hai hình vuông là \(S\)\(R\) đối xứng qua \(I K\).
  • Do đó \(I S = K R\)\(I S \bot S K\).
  • Các cạnh \(I S = S K = K R = R I\), các góc đều \(90^{\circ}\).

\(I S K R\)hình vuông.

a) Chứng minh \(M B = N C = P D = Q A\)

Ta có:\(\)

\(A M = B N = C P = D Q = x\), nên:

  • \(M B = A B - A M = a - x\)
  • \(N C = B C - B N = a - x\)
  • \(P D = C D - C P = a - x\)
  • \(Q A = D A - D Q = a - x\)

\(M B = N C = P D = Q A = a - x .\)

Kết luận: \(M B = N C = P D = Q A .\)


b) Chứng minh \(\triangle Q A M = \triangle N C P\)

Xét hai tam giác \(Q A M\)\(N C P\):

Ta có:

  • \(A B C D\) là hình vuông ⇒ các cạnh song song và vuông góc tương ứng.
  • \(A M = C P\) (theo giả thiết)
  • \(Q A = N C\) (chứng minh ở trên)
  • Góc \(\hat{Q A M} = \hat{N C P} = 90^{\circ}\)

⇒ Hai tam giác vuông có một cạnh góc vuông tương ứng bằng nhaucạnh kề góc vuông tương ứng bằng nhau.

\(\)

Kết luận: \(\triangle Q A M = \triangle N C P .\)


c) Chứng minh \(M N P Q\) là hình vuông

Ta có:

  1. \(A M = B N = C P = D Q\) (giả thiết)
    → các điểm \(M , N , P , Q\) cách đều các đỉnh của hình vuông.
  2. Các cạnh của hình vuông song song nhau:
    \(A B \parallel C D , B C \parallel D A\)

⇒ Từ đó suy ra:

  • \(M N \parallel P Q\)\(M N = P Q\)
  • \(N P \parallel Q M\)\(N P = Q M\)

\(M N P Q\)hình bình hành.

  1. Lại có:
    • \(\hat{M} = 90^{\circ}\) (do các cạnh xuất phát từ các cạnh vuông góc của hình vuông)

⇒ Hình bình hành có góc vuông là hình chữ nhật.
Mà bốn cạnh bằng nhau ⇒ là hình vuông.

Kết luận: \(M N P Q\)hình vuông.


\(\overset{}{}\)

a) Chứng minh \(M B = N C = P D = Q A\)

Ta có:

\(AB=BC=CD=DA=a\overset{}{}\)

\(A M = B N = C P = D Q = x\), nên:

  • \(M B = A B - A M = a - x\)
  • \(N C = B C - B N = a - x\)
  • \(P D = C D - C P = a - x\)
  • \(Q A = D A - D Q = a - x\)

\(M B = N C = P D = Q A = a - x .\)

Kết luận: \(M B = N C = P D = Q A .\)


b) Chứng minh \(\triangle Q A M = \triangle N C P\)

Xét hai tam giác \(Q A M\)\(N C P\):

Ta có:

  • \(A B C D\) là hình vuông ⇒ các cạnh song song và vuông góc tương ứng.
  • \(A M = C P\) (theo giả thiết)
  • \(Q A = N C\) (chứng minh ở trên)
  • Góc \(\hat{Q A M} = \hat{N C P} = 90^{\circ}\)

⇒ Hai tam giác vuông có một cạnh góc vuông tương ứng bằng nhaucạnh kề góc vuông tương ứng bằng nhau.

\(\Rightarrow\triangle QAM=\triangle NCP\)

Kết luận: \(\triangle Q A M = \triangle N C P .\)


c) Chứng minh \(M N P Q\) là hình vuông

Ta có:

  1. \(A M = B N = C P = D Q\) (giả thiết)
    → các điểm \(M , N , P , Q\) cách đều các đỉnh của hình vuông.
  2. Các cạnh của hình vuông song song nhau:
    \(A B \parallel C D , B C \parallel D A\)

⇒ Từ đó suy ra:

  • \(M N \parallel P Q\)\(M N = P Q\)
  • \(N P \parallel Q M\)\(N P = Q M\)

\(M N P Q\)hình bình hành.

  1. Lại có:
    • \(\hat{M} = 90^{\circ}\) (do các cạnh xuất phát từ các cạnh vuông góc của hình vuông)

⇒ Hình bình hành có góc vuông là hình chữ nhật.
Mà bốn cạnh bằng nhau ⇒ là hình vuông.

Kết luận: \(M N P Q\)hình vuông.


\(\)

a) Chứng minh \(A M C K\) là hình thoi

Chứng minh các cạnh bằng nhau:

  • \(I\) là trung điểm của \(A C\)\(I A = I C .\)
  • \(K\) nằm trên tia đối của \(I M\)\(I K = I M\)\(I\)trung điểm của \(M K\).
    \(I M = I K\).

\(M\) là trung điểm của \(B C\)\(B M = M C .\)

Dùng tính chất đường trung tuyến trong tam giác vuông:

Trong tam giác vuông \(A B C\) tại \(A\):

  • Đường trung tuyến \(A M\) ứng với cạnh huyền \(B C\) có độ dài \(A M = \frac{1}{2} B C\).
  • Tức là \(A M = B M = M C .\)

Ta lại có:

  • \(I\) là trung điểm của \(A C\)\(I A = I C = \frac{1}{2} A C .\)
  • Trong tam giác vuông, các trung điểm và đường trung tuyến này có tính đối xứng, nên \(A M\) song song với \(C K\), và \(A K\) song song với \(M C\).

Do đó, ta có:

\(A M \parallel C K , A K \parallel M C\)

\(A M = C K , A K = M C\)

➡ Tứ giác \(A M C K\)hai cặp cạnh đối song song và bằng nhau ⇒ là hình bình hành.

Lại có \(A M = M C\) (tam giác vuông cân tại \(A\) cho \(A B = A C\)).
→ Hình bình hành có hai cạnh kề bằng nhau ⇒ hình thoi.

Kết luận: \(A M C K\)hình thoi.


b) Chứng minh \(A K M B\) là hình bình hành

Ta có:

  • \(M\) là trung điểm của \(B C\).
  • \(K\) đối xứng với \(M\) qua \(I\), mà \(I\) là trung điểm của \(A C\).
    \(A , K , M , B\) có đối xứng qua đường qua \(I\).

Dễ thấy:

\(\)

\(A K \parallel M B\)

→ Hai cặp cạnh đối song song ⇒ \(A K M B\)hình bình hành.