Phan Bảo Gia Hân
Giới thiệu về bản thân
Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, lớp em đã có một chuyến tham quan thật ý nghĩa đến khu di tích Nhà tù Hỏa Lò – một trong những địa chỉ đỏ của Thủ đô. Dù chuyến đi chỉ kéo dài trong một buổi sáng, nhưng những điều em được thấy, được nghe đã để lại trong em nhiều cảm xúc khó quên.
Sáng hôm ấy, trời thu Hà Nội trong xanh, gió nhẹ và mát. Từ sớm, các bạn trong lớp đã háo hức tụ tập trước cổng trường trong trang phục đồng phục chỉnh tề, ai nấy đều vui vẻ, nói cười rộn rã. Khi xe bắt đầu lăn bánh, cả lớp hát vang những bài hát về Tổ quốc và tuổi học trò, không khí thật náo nức.
Khi đến Hỏa Lò, chúng em được cô hướng dẫn viên giới thiệu về lịch sử của nơi đây. Nghe cô kể, em mới hiểu rõ rằng trong thời kì thực dân Pháp, Hỏa Lò là nhà tù giam giữ rất nhiều chiến sĩ cách mạng. Bước qua cánh cổng sắt đen, em cảm thấy một luồng không khí trang nghiêm và lạnh lẽo bao trùm. Những bức tường dày, những phòng giam chật hẹp, những chiếc cùm sắt nặng nề – tất cả đều khiến em xúc động và khâm phục tinh thần kiên cường, bất khuất của các chiến sĩ yêu nước.
Em nhớ nhất là lúc dừng lại trước bức tượng “Bất khuất” – hình ảnh một người tù bị xiềng xích nhưng ánh mắt vẫn rực sáng niềm tin. Nhìn bức tượng ấy, em hiểu rằng dù bị giam cầm về thân thể, tinh thần của họ chưa bao giờ bị khuất phục. Cả lớp em đứng lặng hồi lâu, tưởng nhớ những người đã hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.
Trên đường về, không khí trong xe trầm hơn lúc đi. Ai cũng suy nghĩ về những gì vừa được chứng kiến. Em cảm thấy biết ơn sâu sắc đối với thế hệ cha anh, và tự nhủ phải cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với công sức, máu xương mà họ đã hiến dâng cho Tổ quốc.
Chuyến tham quan ấy đã giúp em hiểu thêm về lịch sử, bồi đắp thêm lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Dù thời gian trôi qua, em tin rằng ký ức về buổi “về nguồn” đầy ý nghĩa ấy sẽ mãi là một kỉ niệm sâu sắc trong quãng đời học sinh của em.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương, hoa hoè sum suê, thạch lựu nở hoa đỏ chói; hoa sen đến mùa nở rộ;…)
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống.
+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
– Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả.
+ Nội dung chính của các phần.
(HS cần nêu được 02 căn cứ phù hợp, thuyết phục)
Câu 6.
– Hình thức:
+ Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả.
+ Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng.
– Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình.
+ Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta.
+ Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động.
+ Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.
Vào một buổi sáng mùa thu mát mẻ, lớp em được cô giáo chủ nhiệm tổ chức cho đi tham quan Nhà tù Hỏa Lò – một di tích lịch sử nổi tiếng nằm ngay giữa lòng Hà Nội. Đây là chuyến đi mà em cảm thấy vô cùng ý nghĩa và để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc.
Khi vừa đặt chân đến cổng Hỏa Lò, em thấy nổi bật là bức tường đá dày màu xám cao ngất, phía trên có dòng chữ “Maison Centrale” – tên gọi mà thực dân Pháp đặt cho nhà tù này. Bước qua cánh cổng sắt nặng nề, một không khí trang nghiêm và có phần lạnh lẽo bao trùm khắp không gian. Em cảm giác như đang quay ngược thời gian, trở về những năm tháng đầy đau thương nhưng oanh liệt của dân tộc.
Bên trong, hướng dẫn viên đưa chúng em đi thăm từng khu vực: phòng giam, khu biệt lập, nơi giam giữ các chiến sĩ cách mạng, và cả khu trưng bày hiện vật. Những bức tượng mô phỏng hình ảnh các tù nhân bị xiềng xích, những chiếc cùm gỗ, cùm sắt cũ kỹ, những hiện vật nhỏ như bát ăn cơm, chiếc chăn rách… tất cả đều khiến em xúc động. Em không khỏi rùng mình khi nghe kể về những đòn tra tấn dã man mà kẻ thù đã dùng để khuất phục ý chí của các chiến sĩ ta. Nhưng dù bị hành hạ, họ vẫn kiên cường, không khuất phục, vẫn tin tưởng vào ngày đất nước hoàn toàn độc lập.
Ấn tượng nhất với em là khu trưng bày về những người tù nổi tiếng như đồng chí Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn,… Những bức ảnh, những dòng tư liệu ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao ý chí quật cường, lòng yêu nước và niềm tin sắt đá vào cách mạng. Đặc biệt, em còn được xem mô hình “chuyến vượt ngục Hỏa Lò năm 1945”, nơi các chiến sĩ đã mưu trí và dũng cảm trốn thoát để tiếp tục hoạt động cách mạng.
Rời Nhà tù Hỏa Lò, lòng em tràn đầy niềm tự hào và biết ơn. Em nhận ra rằng, cuộc sống tự do, ấm no mà chúng em đang có hôm nay được đánh đổi bằng mồ hôi, máu và nước mắt của bao thế hệ cha anh đi trước. Chuyến đi ấy giúp em hiểu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc, đồng thời nhắc nhở em phải cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với sự hi sinh của họ.
Chuyến tham quan Nhà tù Hỏa Lò đã để lại trong em những cảm xúc khó quên. Đó không chỉ là một buổi học ngoại khóa bổ ích mà còn là bài học sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần kiên cường và ý chí bất khuất của con người Việt Nam.
Hình thức:
+ Dung lượng: 5 – 7 câu.
+ Không mắc lỗi diễn đạt, lặp từ, chính tả.
– Nội dung:
+ Giúp con người có động lực vượt qua nghịch cảnh, không dễ dàng gục ngã.
+ Nuôi dưỡng tinh thần lạc quan, tin tưởng vào những điều tốt đẹp sẽ đến.
+ Tiếp thêm sức mạnh để kiên trì, bền bỉ theo đuổi mục tiêu.
+ Gợi mở khả năng thay đổi, vươn lên làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
– Tâm trạng của một nhà nho gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhân dân giữa thời loạn lạc, đói rét, lầm than.
– Nỗi buồn bơ vơ, cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn cảnh chợ thưa thớt, người người đói khổ.
– Nhà thơ cũng khao khát, mong ước có một tín hiệu tốt đẹp trong năm mới để nhân dân thoát khỏi hoàn cảnh bi đát hiện tại.
a. Nội dung cải cách kinh tế, xã hội của Hồ Quý Ly:
+ Tiến hành đo đạc lại ruộng đất, diện tích thừa phải sung công, nghĩa là khôi phục chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất. Quy định lại thuế đinh, thuế ruộng đất.
+ Phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng. Năm 1396, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy Thông bảo hội sao, bỏ hẳn việc dùng tiền đồng đang lưu hành trong xã hội.
+ Đặt ra chính sách hạn điền. Theo phép hạn điền, trừ đại vương và trưởng công chúa, còn tất cả mọi người, từ quý tộc cho đến thử dân, đều bị hạn chế số ruộng tư.
+ Thống nhất đơn vị đo lường trong cả nước.
+ Năm 1401, Hồ Quý Ly đã ban hành chính sách hạn nô, hạn chế nô tì của các điền trang.
b. Nguyên nhân thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn:
+ Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi do nhân dân ta luôn nêu cao tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm giành độc lập cho dân tộc.
+ Toàn dân đã đồng lòng đoàn kết chiến đấu, đóng góp sức người, sức của để giành thắng lợi.
+ Nhờ đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của bộ chỉ huy nghĩa quân, đứng đầu là những lãnh tụ kiệt xuất như Lê Lợi và Nguyễn Trãi, cùng những vị tướng tài như Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Nguyễn Biểu,...
+ Khởi nghĩa quân Lam Sơn đã quy tụ được trí tuệ và ý chí chiến đấu của mọi tầng lớp nhân dân, đã duy trì trong lòng dân và được nhân dân bảo vệ.
a. Đặc điểm địa hình của châu Nam Cực:
+ Toàn bộ châu Nam Cực được coi là một cao nguyên băng khổng lồ, 98% bề mặt bị bao phủ bởi lớp băng dày trung bình trên 1720m
+ Độ cao trung bình lên tới 2040m, cao nhất trong các châu lục.
+ Lớp phủ băng làm cho bề mặt châu lục tương đối bằng phẳng.
b. Kể tên tài nguyên thiên nhiên của châu Nam Cực
- Nước ngọt: chiếm 60% lượng nước ngọt trên Trái Đất.
- Khoáng sản: than đá, sắt, đồng, dầu mỏ, khí tự nhiên.