Lê Đức Khanh
Giới thiệu về bản thân
a) A(x)=2x3−x2+3x−5B(x)=2x3+x2+x+5A(x)+B(x)=(2x3−x2+3x−5)+(2x3+x2+x+5)=4x3+4x.
\(& \&\text{nbsp};\text{b})\&\text{nbsp};\text{Ta}\&\text{nbsp};\text{c} \overset{ˊ}{\text{o}} :\&\text{nbsp}; H \left(\right. x \left.\right) = A \left(\right. x \left.\right) + B \left(\right. x \left.\right) \\ & \begin{matrix} & \Rightarrow H \left(\right. x \left.\right) = 4 x^{3} + 4 x \\ & H \left(\right. x \left.\right) = 0 \Rightarrow 4 x^{3} + 4 x = 0 \\ & 4 x \left(\right. x^{2} + 1 \left.\right) = 0 \\ & \Rightarrow 4 x = 0 \left(\right. \&\text{nbsp};\text{do}\&\text{nbsp}; x^{2} + 1 > 0 \&\text{nbsp};\text{v}ớ\text{i}\&\text{nbsp};\text{m}ọ\text{i}\&\text{nbsp}; x \left.\right) \\ & x = 0.\end{matrix}\)
Vậy nghiệm của \(H \left(\right. x \left.\right)\) là \(x = 0\).
Gọi số sách lớp 7A; 7B quyên góp được lần lượt là \(x , y\) ( ĐK: \(x , y \in \&\text{nbsp}; N^{*}\))
Theo đề bài:
+) Lớp 7A và 7B quyên góp được \(121\) quyển sách
Nên ta có: \(x + y = 121\)
+) Số sách giáo khoa của lớp 6A; lớp 6B tỉ lệ thuận với tỉ lệ thuận với 5; 6
Nên ta có: \(\frac{x}{5} = \frac{y}{6}\)
Áp dụng tính chất dãy tỉ số bằng nhau ta có \(\frac{x}{5} = \frac{y}{6} = \frac{x + y}{5 + 6} = \frac{121}{11} = 11\)
Suy ra: x=55, y= 66 ( thỏa mãn).
Vậy lớp 6A quyên góp được \(55\) quyển sách, lớp 6B quyên góp được \(66\) cuốn.
a) Xét \(\triangle A D M\) và \(\triangle A B M\) có
\(A D = A B\) (già thiết);
\(D M = B M\) (giả thiết \(M\) là trung điểm của \(B D\));
\(A M\) chung.
Suy ra \(\triangle A D M = \triangle A B M\) (c.c.c).
Do đó \(\hat{D A M} = \hat{B A M}\) (hai góc tương ứng).
Vì vậy \(A M\) là tia phân giác góc \(A\) của tam giác \(A B C\).
b) Theo chứng minh trên, có \(A M\) là tia phân giác góc \(A\).
Lại có \(E\) là giao điểm của tia phân giác góc \(B\) với tia \(A E\) (giả thiết).
Như vậy \(E\) là giao điểm của tia phân giác góc \(A\) với tia phân giác góc \(B\).
Suy ra \(C E\) là phân giác góc \(C\) (theo định lí: ba đường phân giác của tam giác đồng quy tại một điểm).
Từ đó \(\hat{A C E} = \frac{1}{2} \hat{C} = 1 5^{\circ}\).
a) Xét \(\triangle A D M\) và \(\triangle A B M\) có
\(A D = A B\) (già thiết);
\(D M = B M\) (giả thiết \(M\) là trung điểm của \(B D\));
\(A M\) chung.
Suy ra \(\triangle A D M = \triangle A B M\) (c.c.c).
Do đó \(\hat{D A M} = \hat{B A M}\) (hai góc tương ứng).
Vì vậy \(A M\) là tia phân giác góc \(A\) của tam giác \(A B C\).
b) Theo chứng minh trên, có \(A M\) là tia phân giác góc \(A\).
Lại có \(E\) là giao điểm của tia phân giác góc \(B\) với tia \(A E\) (giả thiết).
Như vậy \(E\) là giao điểm của tia phân giác góc \(A\) với tia phân giác góc \(B\).
Suy ra \(C E\) là phân giác góc \(C\) (theo định lí: ba đường phân giác của tam giác đồng quy tại một điểm).
Từ đó \(\hat{A C E} = \frac{1}{2} \hat{C} = 1 5^{\circ}\).
Xét \(6\) biến cố sau:
A: "Hải chọn suất ăn gồm đùi gà rán và phô mai que".
B: "Hải chọn suất ăn gồm đùi gà rán và khoai tây chiên".
C: "Hải chọn suất ăn gồm cánh gà rán và phô mai que".
D: "Hải chọn suất ăn gồm cánh gà rán và khoai tây chiên".
E: "Hải chọn suất ăn gồm phở và phô mai que".
F: "Hải chọn suất ăn gồm phở và khoai tây chiên".
Ta thấy \(6\) biến cố trên đồng khả năng và luôn xảy ra đúng một trong sáu biến cố này.
Vì vậy, mỗi biến cố trên đều có xác suất bằng \(\frac{1}{6}\). Nói riêng, biến cố \(A\) có xác suất bằng \(\frac{1}{6}\).
a) Chiều rộng, chiều dài, chiều cao của bể lần lượt là \(3 x ; 2 x ; x\).
Bể có thể tích \(3 x . 2 x . x = 6 x^{3}\) (dm\(^{3}\)).
Bể chứa được \(6 x^{3}\) lít nước. Do bể đang có \(100\) lít nước nên để bể đầy nước cần thêm vào bể \(A = 6 x^{3} - 100\) (lít) nước.
b) Trường hợp bể có chiều cao \(5\) dm thì \(x = 5\), lượng nước cần thêm vào bể là giá trị của đa thức \(A\) tại \(x = 5\), tức là bằng \(6. 5^{3} - 100 = 650\) (lít).
Để đầy bể nước, cần mở vòi trong \(650 : 25 = 26\) phút.
) Khi xe di chuyển trên cùng một loại đường thì chiều dài quãng đường tỉ lệ thuận với lượng xăng tiêu thụ. Ta có bảng tóm tắt sau:
Loại đường | Chiều dài quãng (km) | Lượng xăng tiêu thụ (lít) |
Đô thị | \(100\) | \(13 , 9\) |
\(30\) | \(x\) |
Từ đó \(x = \left(\right. 30.13 , 9 \left.\right) : 100 = 4 , 17\).
Do đó, để đi được \(30\) km đường đô thị cần tối thiểu \(4 , 17\) lít xăng.
b)
Tương tự, ta có
Loại đường | Chiều dài quãng (km) | Lượng xăng tiêu thụ (lít) |
Cao tốc | \(100\) | \(7 , 5\) |
\(y\) | \(4 , 17\) |
Do đó \(y = \left(\right. 100.4 , 17 \left.\right) : 7 , 5 = 55 , 6\).
Nếu đi trên cao tốc thì với \(4 , 17\) lít xăng, xe chạy được \(55 , 6\) km.
c) Bài toán được tóm tắt như sau:
Loại đường | Chiều dài quãng (km) | Lượng xăng tiêu thụ (lít) |
Đô thị | \(100\) | \(13 , 9\) |
\(20\) | \(x\) | |
Cao tốc | \(100\) | \(7 , 5\) |
\(80\) | \(y\) | |
Hỗn hợp | \(100\) | \(9 , 9\) |
\(30\) | \(z\) |
Từ đó \(x = \left(\right. 20 , 13 , 9 \left.\right) : 100 = 2 , 78\); \(y = \left(\right. 80.7 , 5 \left.\right) : 100 = 6\); \(z = \left(\right. 30.9 , 9 \left.\right) : 100 = 2 , 97\).
Do đó từ nhà về quê, xe ông An tiêu thụ hết \(2 , 78 + 6 + 2 , 97 = 11 , 75\) lít xăng.
AB−AC<BC<AB+AC
\(5 < B C < \&\text{nbsp}; 7\)
\(B C = 6 c m\)
Vậy tam giác \(A B C\) cân tại \(B\).
AB−AC<BC<AB+AC
\(5 < B C < \&\text{nbsp}; 7\)
\(B C = 6 c m\)
Vậy tam giác \(A B C\) cân tại \(B\).
a) \(V_{A B C D \cdot A ' B^{'} C^{'} D^{'}} = 10.8.5 = 400 \left(\right. \&\text{nbsp}; c m^{3} \left.\right)\)
b) \(V_{A D E \cdot A^{'} D^{'} E^{'}} = \frac{1}{2} \cdot 3 \cdot 10.8 = 120 \left(\right. \&\text{nbsp}; c m^{3} \left.\right)\)
\(V_{\text{kh} \overset{ˊ}{\hat{\text{o}}} \text{i}\&\text{nbsp};\text{g} \overset{\sim}{\hat{\text{o}}} \&\text{nbsp};} = V_{A B C D \cdot A^{'} B^{'} C^{'} D^{'}} + V_{A D E \cdot A^{'} D^{'} E^{'}}\) \(= 400 + 120 = 520 \left(\right. c m^{3} \left.\right)\)