Phạm Thanh Thùy
Giới thiệu về bản thân
Tóm tắt: Vô cơ ->Hữu cơ đơn giản -> Đại phân tử ->Tế bào sơ khai ->Sinh vật đơn bào ->Sinh vật đa bào
a. Vì sao chọn lọc tự nhiên (CLTN) không thể tạo ra một sinh vật thích nghi với tất cả các môi trường?
CLTN không thể tạo ra một "siêu sinh vật" toàn năng vì những lý do sau:
• Sự đánh đổi (Trade-off): Một đặc điểm giúp sinh vật thích nghi tốt ở môi trường này có thể lại là bất lợi ở môi trường khác. Ví dụ: Lớp mỡ dày giúp gấu Bắc Cực giữ ấm nhưng sẽ khiến nó bị quá nhiệt nếu sống ở sa mạc.
• CLTN chỉ làm việc trên các biến dị có sẵn: CLTN không "tạo ra" biến dị mới theo ý muốn mà chỉ sàng lọc những gì quần thể đang có. Nếu không có đột biến phù hợp, sinh vật không thể thích nghi.
• Môi trường luôn biến đổi: Điều kiện sống luôn thay đổi nhanh chóng, trong khi quá trình tiến hóa cần rất nhiều thời gian. Sinh vật thường chỉ "đuổi kịp" môi trường hiện tại chứ không thể đi trước thời đại.
b. Các con đường hình thành loài mới
Có 2 con đường chính để hình thành loài mới:
1. Hình thành loài khác khu vực địa lí (Cách li địa lí):
• Xảy ra khi quần thể bị chia cắt bởi các vật cản địa lí (sông, núi, biển...).
• Sự cách li này ngăn cản dòng gen, giúp các quần thể tích lũy những khác biệt về vốn gen cho đến khi xuất hiện cách li sinh sản.
2. Hình thành loài cùng khu vực địa lí:
• Cách li tập tính: Ví dụ các nhóm chim cùng loài nhưng có tiếng hót khác nhau nên không giao phối với nhau.
• Cách li sinh thái: Các cá thể sống trong cùng khu vực nhưng ở các ổ sinh thái khác nhau (ví dụ: loài sâu ăn lá cây khác nhau).
• Đột biến đa bội (Phổ biến ở thực vật): Hình thành loài mới nhanh chóng thông qua việc gấp đôi bộ nhiễm sắc thể (tự đa bội hoặc lai xa kèm đa bội hóa).
Chọn lọc chống lại allele trội (quần thể A) luôn diễn ra nhanh hơn vì allele trội luôn biểu hiện ra kiểu hình, không có nơi "ẩn nấp" như allele lặn.