Nguyễn Thị Như Quỳnh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Thể thơ: Song thất lục bát.
Câu 2:
Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là:
“Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.”
-Hai câu thơ cho thấy nàng mòn mỏi đợi tin chồng qua nhiều mùa xuân nhưng vẫn bặt vô âm tín.
Câu 3:
-Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ: nghe hơi sương sắm áo bông, gieo bói tiền, mở thư cũ, dạo hiên vắng, ngồi rèm thưa…
- Những hành động ấy đều thể hiện nỗi nhớ thương, lo lắng và cô đơn sâu sắc. Nàng không biết tin chồng, chỉ biết gửi gắm tình cảm qua những việc nhỏ bé ấy vừa mong, vừa sợ, vừa hy vọng.
Câu 4:
Biện pháp tu từ: Nhân hóa trong câu “Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
-Tác dụng:
+làm nổi bật nỗi cô đơn tột cùng của người chinh phụ,không có ai chia sẻ nên phải tâm sự với ngọn đèn
+người bạn vô tri, qua đó diễn tả sâu sắc sự trống trải, buồn thương và khát khao được cảm thông.
+tăng sức gơi hình gơi cảm
Câu 5:
Người chinh phụ thể hiện tâm trạng cô đơn, nhớ thương, lo lắng, buồn tủi và tuyệt vọng khi chồng ra trận.
- Qua tâm trạng ấy, em hiểu rằng chiến tranh không chỉ gây mất mát về người mà còn để lại nỗi đau tinh thần sâu sắc cho những người ở lại. Từ đó, em càng thêm trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay, biết ơn những người đã hi sinh để mang lại bình yên cho đất nước và ý thức sống tốt, góp phần giữ gìn nền hòa bình quý giá ấy.
Câu 1
Nhân vật người chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm” là hình ảnh tiêu biểu cho nỗi cô đơn và khát khao hạnh phúc của người phụ nữ trong chiến tranh phong kiến. Khi chồng ra trận, nàng sống trong cảnh phòng không gối chiếc, ngày đêm mỏi mòn trông ngóng. Không gian quanh nàng buồn tẻ, thời gian trôi chậm chạp, khiến nỗi nhớ và sự cô độc càng thêm da diết. Nàng mong chồng bình an trở về nhưng chỉ nhận lại là khoảng trống mênh mông và nỗi sầu vô tận. Qua hình ảnh người chinh phụ, tác giả bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với số phận con người, nhất là những người phụ nữ chịu thiệt thòi trong chiến tranh. Đồng thời, tác phẩm còn lên án chiến tranh phi nghĩa đã chia lìa hạnh phúc lứa đôi. Nhân vật người chinh phụ vì thế trở thành biểu tượng của nỗi đau, của khát vọng được sống trong hòa bình, đoàn tụ và yêu thương.
Câu 2
Đọc “Chinh phụ ngâm”, ta bắt gặp hình ảnh người vợ trẻ cô đơn, ngày đêm trông chồng ngoài biên ải. Từ nỗi đau của người chinh phụ, ta thấm thía hơn những mất mát và đau thương mà chiến tranh gây ra cho con người và xã hội.
Chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng của bao chiến sĩ, mà còn cướp đi niềm hạnh phúc, tuổi xuân và tương lai của những người ở lại. Biết bao gia đình ly tán, bao người mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha. Không chỉ có máu và nước mắt, chiến tranh còn để lại vết thương tinh thần không dễ nguôi ngoai. Hình ảnh người chinh phụ mòn mỏi chờ đợi là tiếng nói tố cáo chiến tranh phi nghĩa và là lời kêu gọi trân trọng hòa bình.
Ngày nay, chúng ta được sống trong độc lập, tự do – đó là kết quả của biết bao hi sinh, mất mát mà thế hệ cha anh đã trải qua. Bởi vậy, trách nhiệm của thế hệ trẻ là phải biết trân trọng và giữ gìn cuộc sống hòa bình quý giá này. Chúng ta cần học tập, rèn luyện, sống có ước mơ, lý tưởng và góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh. Đồng thời, phải biết yêu thương, giúp đỡ nhau, lan tỏa tinh thần nhân ái để thế giới luôn chan hòa, yên bình.
Chiến tranh chỉ đem đến chia ly và đau khổ; hòa bình mới mang lại hạnh phúc cho con người. Thế hệ trẻ hôm nay cần ghi nhớ điều đó, sống có trách nhiệm với bản thân, với cộng đồng, và với Tổ quốc – để những nỗi đau như của người chinh phụ trong quá khứ mãi mãi không còn lặp lại.
Câu 1 :
Nhân vật bà má trong truyện “Bà má Hậu Giang” là hình ảnh đẹp của người phụ nữ Nam Bộ trong kháng chiến. Bà là người mẹ nông dân hiền hậu, mộc mạc nhưng có tấm lòng yêu nước sâu sắc. Bà coi các chiến sĩ cách mạng như con ruột, hết lòng chăm sóc, bảo vệ họ dù phải đối mặt với hiểm nguy. Bà sẵn sàng hi sinh bản thân để góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Qua hình ảnh bà má, ta cảm nhận được vẻ đẹp giản dị mà cao quý của người phụ nữ Việt Nam: yêu nước, nhân hậu, kiên cường và giàu đức hi sinh. Bà má Hậu Giang không chỉ là người mẹ của những người con trong gia đình, mà còn là người mẹ chung của những người con đất nước – biểu tượng cho tình yêu Tổ quốc và sức mạnh của nhân dân trong kháng chiến.
Câu 2
Câu chuyện “Bà má Hậu Giang” giúp em hiểu hơn về tấm lòng yêu nước và sự hi sinh thầm lặng của những con người bình dị trong kháng chiến. Từ đó, em nhận ra thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm lớn lao với đất nước. Chúng ta đang được sống trong hòa bình, không còn bom đạn, nhưng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn còn tiếp tục.
Trách nhiệm của thanh niên ngày nay là phải học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức, có ý thức kỷ luật và tinh thần cống hiến. Yêu nước trong thời bình chính là biết trân trọng công lao của cha ông, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh. Mỗi người trẻ cần có ước mơ, hoài bão và nỗ lực để biến ước mơ đó thành hiện thực.
Bên cạnh đó, chúng ta cần sống tử tế, biết giúp đỡ người khác, bảo vệ môi trường, và tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng. Dù là việc nhỏ như giữ gìn vệ sinh, học tập chăm chỉ hay nói lời hay, làm việc tốt – tất cả đều thể hiện tình yêu Tổ quốc.
Thế hệ trẻ hôm nay phải tiếp nối tinh thần của bà má Hậu Giang: âm thầm nhưng bền bỉ cống hiến, để góp phần làm cho Việt Nam ngày càng tươi đẹp và giàu mạnh hơn.
Câu 1:
Văn bản trên thuộc thể loai thơ:Song thất luc bát
Câu 2:
Sự việc đã xảy ra trong văn bản “Bà má hậu Giang” là: giặc vào túp lều cha hỏi, đe dọa ,bà má hậu để la chỗ ở của du kích.
Câu 3:
Những hành động độc ác của tên giặc là:
+Đạp rơi liếm nghênh ngang vào nhà
+ Lớn dọa khai mau tao chém mất đầu
+ Đạp lên đầu bà má kề gươm lạnh toát vào hông
-Nhân vâtj này bản chất tàn bạo, dã man ,vô nhân tính của kẻ thù xâm lược
Caau 4:
biện pháp tu từ ở câu trên là:biện pháp tu từ so sánh.So sánh”con tao”được so sánh với”rừng đước mạnh”và “rừng tràm thơm”
-tác dụng:
+nhấn mạnh phẩm chất dũng cảm ,gan dạ ,anh hùng hiên ngang ,bất khuất của các con của má
+ngợi ca lòng yêu nước nồng nàn lý tưởng chiến đấu cao đẹp của những người chiến sĩ Cộng sản
+Làm tăng sức gợi hình gợi cảm đối tượng được so sánh
Câu 5:
Hình tượng bà má trong văn bản thể hiện rõ tinh thần yêu nước sâu sắc và bền bỉ của nhân dân ta. Dù chỉ là một người dân bình thường, bà vẫn sẵn sàng hi sinh, âm thầm góp sức cho kháng chiến, nuôi giấu cán bộ, bảo vệ cách mạng. Tình yêu nước của bà không ồn ào mà chân thành, giản dị nhưng vô cùng mạnh mẽ. Qua đó, em cảm nhận được rằng sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc bắt nguồn từ lòng yêu nước của mỗi con người, từ những việc làm nhỏ bé mà cao cả. Chính tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh to lớn giúp dân tộc ta giành được độc lập, tự do.
Nhân vật Hữu Chi trong văn bản “Lý Tướng Quân” là hình ảnh tiêu biểu cho người dân bình thường nhưng mang trong mình lòng yêu nước sâu sắc và niềm kính trọng vô hạn đối với vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Hữu Chi là một nông dân chất phác, trung thực, sống giản dị và gắn bó với quê hương. Khi được chứng kiến tài năng và đức độ của Lý Tướng Quân, ông không chỉ khâm phục mà còn hết lòng tôn thờ, xem vị tướng như biểu tượng của sức mạnh và chính nghĩa. Hữu Chi thể hiện niềm tự hào dân tộc thông qua sự tôn kính chân thành và mong muốn được học theo gương sáng của người anh hùng. Nhân vật này giúp người đọc cảm nhận được tình cảm thiêng liêng giữa nhân dân và những người có công với đất nước — đó là mối liên kết bền chặt tạo nên sức mạnh dân tộc Việt Nam. Qua hình tượng Hữu Chi, tác giả ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người dân lao động Việt Nam: giản dị mà sâu sắc, nhỏ bé mà vĩ đại trong tình yêu nước và lòng biết ơn. Từ nhân vật ấy, ta nhận ra rằng mỗi người dân, dù ở vị trí nào, cũng có thể góp phần làm nên sức mạnh chung của Tổ quốc.
Nhân vật Hữu Chi trong văn bản “Lý Tướng Quân” là hình ảnh tiêu biểu cho người dân bình thường nhưng mang trong mình lòng yêu nước sâu sắc và niềm kính trọng vô hạn đối với vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Hữu Chi là một nông dân chất phác, trung thực, sống giản dị và gắn bó với quê hương. Khi được chứng kiến tài năng và đức độ của Lý Tướng Quân, ông không chỉ khâm phục mà còn hết lòng tôn thờ, xem vị tướng như biểu tượng của sức mạnh và chính nghĩa. Hữu Chi thể hiện niềm tự hào dân tộc thông qua sự tôn kính chân thành và mong muốn được học theo gương sáng của người anh hùng. Nhân vật này giúp người đọc cảm nhận được tình cảm thiêng liêng giữa nhân dân và những người có công với đất nước — đó là mối liên kết bền chặt tạo nên sức mạnh dân tộc Việt Nam. Qua hình tượng Hữu Chi, tác giả ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người dân lao động Việt Nam: giản dị mà sâu sắc, nhỏ bé mà vĩ đại trong tình yêu nước và lòng biết ơn. Từ nhân vật ấy, ta nhận ra rằng mỗi người dân, dù ở vị trí nào, cũng có thể góp phần làm nên sức mạnh chung của Tổ quốc.