Nguyễn Khánh Phan

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Khánh Phan
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Nhân vật người chinh phụ trong đoạn trích Chinh phụ ngâm hiện lên với nỗi nhớ thương, cô đơn và tuyệt vọng khi phải xa chồng trong cảnh chiến tranh ly loạn. Trải qua “mấy xuân tin đi tin lại”, người vợ vẫn “vắng không” tin tức, ngày đêm khắc khoải trông mong. Nỗi nhớ ấy khiến nàng luôn hướng về nơi biên ải, tưởng nhạn mang thư, nghe gió sương mà lo cho chồng lạnh lẽo. Nỗi chờ đợi kéo dài khiến người chinh phụ trở nên yếu đuối, tiều tụy, hành động chỉ quanh quẩn bên rèm, bên đèn — những hình ảnh tượng trưng cho sự cô đơn đến cùng cực. Ngọn đèn vô tri được nhân hoá như người bạn duy nhất biết nỗi lòng của nàng. Qua đó, ta thấy hình tượng người chinh phụ là biểu tượng cho nỗi đau của bao người phụ nữ thời chiến, khao khát yêu thương, đoàn tụ và hạnh phúc bình yên. Hình ảnh ấy vừa lay động lòng cảm thông,Nhân vật người chinh phụ trong đoạn trích Chinh phụ ngâm hiện lên với nỗi nhớ thương, cô đơn và tuyệt vọng khi phải xa chồng trong cảnh chiến tranh ly loạn. Trải qua “mấy xuân tin đi tin lại”, người vợ vẫn “vắng không” tin tức, ngày đêm khắc khoải trông mong. Nỗi nhớ ấy khiến nàng luôn hướng về nơi biên ải, tưởng nhạn mang thư, nghe gió sương mà lo cho chồng lạnh lẽo. Nỗi chờ đợi kéo dài khiến người chinh phụ trở nên yếu đuối, tiều tụy, hành động chỉ quanh quẩn bên rèm, bên đèn — những hình ảnh tượng trưng cho sự cô đơn đến cùng cực. Ngọn đèn vô tri được nhân hoá như người bạn duy nhất biết nỗi lòng của nàng. Qua đó, ta thấy hình tượng người chinh phụ là biểu tượng cho nỗi đau của bao người phụ nữ thời chiến, khao khát yêu thương, đoàn tụ và hạnh phúc bình yên. Hình ảnh ấy vừa lay động lòng cảm thông, vừa thể hiện tiếng nói nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

Câu 2

Chiến tranh, dù mang danh nghĩa nào, cũng để lại những mất mát khôn nguôi trong lòng nhân loại. Từ Chinh phụ ngâm, ta thấy rõ bi kịch của người chinh phụ cô đơn, ngóng chờ người chồng nơi biên ải. Chiến tranh không chỉ cướp đi mạng sống con người mà còn chia lìa bao tổ ấm, khiến người ở lại phải sống trong day dứt, nhớ nhung và tuyệt vọng. Đằng sau tiếng ngâm ai oán ấy là tiếng khóc cho thân phận con người nhỏ bé trước bão tố thời cuộc. Trong lịch sử dân tộc ta, chiến tranh từng gieo bao đau thương, tang tóc. Hàng triệu người đã ngã xuống, biết bao bà mẹ mất con, bao người vợ hóa goá, bao em thơ mồ côi. Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương của cha ông, vì vậy thế hệ trẻ càng phải biết trân trọng giá trị ấy. Giữ gìn hòa bình không chỉ là bảo vệ biên cương, mà còn là sống có trách nhiệm, yêu thương, đoàn kết và lan tỏa điều tốt đẹp. Mỗi người trẻ cần học tập tốt, rèn luyện bản thân, góp phần xây dựng đất nước vững mạnh, tránh xa bạo lực, thù hận để hòa bình mãi bền lâu. Chiến tranh là bóng tối của nhân loại, còn hòa bình là ánh sáng của yêu thương. Hiểu điều đó, chúng ta càng biết ơn quá khứ và trân trọng từng phút giây yên bình của hiện tại.

Câu 1. Văn bản được viết theo thể song thất lục bát (hai câu 7 chữ xen một câu 6 chữ và một câu 8 chữ). Câu 2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng là: “Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không.” Câu 3. Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ dõi trông tin tức, chuẩn bị áo bông, gieo quẻ bói tin, thắp đèn chờ đợi, đi đi lại lại nơi hiên vắng. → Những hành động ấy thể hiện nỗi nhớ thương da diết, sự cô đơn và khắc khoải chờ đợi trong tuyệt vọng của người vợ xa chồng. Câu 4. Biện pháp tu từ nhân hoá trong câu: “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng. Đèn có biết dường bằng chẳng biết…” → Cách nhân hoá “đèn biết chăng” làm nổi bật nỗi cô đơn đến tột cùng, khi người chinh phụ chỉ còn biết tâm sự với ngọn đèn vô tri — biểu tượng cho sự lẻ loi và chờ đợi không nguôi. Câu 5. Người chinh phụ thể hiện tâm trạng cô đơn, nhớ thương, buồn tủi và tuyệt vọng trong cảnh chia ly. → Qua đó, ta thêm trân trọng cuộc sống hoà bình hôm nay, khi con người không còn phải chịu cảnh chiến tranh, chia ly, mỗi gia đình được đoàn tụ và hạnh phúc.

Câu 1.

Văn bản được viết theo thể song thất lục bát (hai câu 7 chữ xen một câu 6 chữ và một câu 8 chữ).

Câu 2.

Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng là: “Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không.”

Câu 3.

Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ dõi trông tin tức, chuẩn bị áo bông, gieo quẻ bói tin, thắp đèn chờ đợi, đi đi lại lại nơi hiên vắng. → Những hành động ấy thể hiện nỗi nhớ thương da diết, sự cô đơn và khắc khoải chờ đợi trong tuyệt vọng của người vợ xa chồng.

Câu 4. “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng. Đèn có biết dường bằng chẳng biết…”

-Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu trên là nhân hóa "đèn biết chăng"

-Tác dụng

+ làm nổi bật nỗi cô đơn đến tột cùng, khi người chinh phụ chỉ còn biết tâm sự với ngọn đèn vô tri

+ thể hiện sự lẻ loi ,cô đơn và chờ đợi không nguôi của người chinh phụ

+tăng tính gợi hình gợi cảm

Câu5.

Người chinh phụ thể hiện tâm trạng cô đơn, nhớ thương, buồn tủi và tuyệt vọng trong cảnh chia ly. → Qua đó, ta thêm trân trọng cuộc sống hoà bình hôm nay, khi con người không còn phải chịu cảnh chiến tranh, chia ly, mỗi gia đình được đoàn tụ và hạnh phúc.