Dương Thị Vân
Giới thiệu về bản thân
1.
Người phụ nữ trong Chinh Phụ Ngâm là hiện thân của nỗi bi thương và cô đơn do chiến tranh gây ra, mang trong mình tình yêu son sắt và nỗi nhớ quê nhà da diết. Họ là biểu tượng của số phận nhỏ bé, bị áp bức trong xã hội phong kiến, chỉ biết âm thầm chờ đợi chồng ra trận trong đau khổ và hy sinh. Tác phẩm khắc họa chân thực hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất cao quý như thủy chung, nhưng đồng thời cũng bộc lộ sâu sắc sự bất hạnh và bi kịch của họ.
2.
Bài làm.
Tác phẩm đã được dịch ra chữ Nôm, và chưa biết ai là tác giả bản dịch hiện hành. Có người cho rằng đó là bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Lại có người cho rằng Phan Huy Ích chính là dịch giả của Chinh phụ ngâm. Đoạn trích dưới đây thuộc bản dịch hiện hành, viết về tình cảm và tâm trạng người chinh phụ phải sống cô đơn, mòn mỏi trong thời gian dài người chồng đi đánh trận, không có tin tức, không rõ ngày trở về. Kể từ lúc tiễn chồng vào “cõi xa mưa gió” người chinh phụ trở về sống trong tình cảm đơn chiếc, lẻ loi. Ngày cũng như đêm, sau khi công việc đã yên mọi bề, người chinh phụ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
Bốn câu thơ song thất lục bát với vần điệu chặt chẽ, thăng trầm như những nốt nhạc buồn càng làm đậm thêm tình cảnh đơn chiếc, lẻ loi kia. Người trước có lúc sóng đôi vợ chồng thì nay “thầm gieo từng bước" dưới mái hiên vắng vẻ. Ngày nào bàn chuyện làm ăn cùng chồng bên cửa sổ thì này buông xuống kéo lên nhiều lần mong ngóng nhưng chẳng thấy chim thước báo tin lành. Ngày thì như thế, còn đêm thì không ngủ được, một mình đối diện với ngọn đèn khuya. Tình cảnh của người chinh phụ quá lẻ loi, đơn chiếc. Ngày thì khắc khoải chờ mong. Đêm dài câm lặng, biết riêng lòng mình, Hoa đèn kia dẫu sao còn lửa. Riêng lòng này với bóng lạnh lùng.
Hai câu lục bát, một câu miêu tả thời gian, một câu miêu tả nỗi buồn. Cả hai câu đều mang nghệ thuật so sánh. Trong tình cảnh lẻ loi ấy thì một giờ là đợi dài tựa một năm, như người xưa thường ví “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề", ngày sau này Xuân Quỳnh tâm sự “Một ngày không gặp nhau / Biển bạc đầu thương nhớ”. Thời gian chờ đợi càng dài thì nỗi sầu càng lớn "tựa miền biển xa”. Tình cảnh đã bước qua tâm trạng. Đấy là tâm trạng nhớ thương của người chinh phụ gửi tới chồng ở miền xa. Nỗi nhớ thương thật tha thiết. “Lòng này gửi gió đông có tiện Nghìn vàng xin gửi đến non Yên Non yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời” Bốn câu thơ trên là lời tâm sự của vợ gửi đến chồng. Nhưng chim thước không có để nhờ mang thư đi. Vậy thì gửi lời nhớ thương theo gió. Nhưng gửi theo gió đông thì gió có mang lời thủ thỉ đến được tai chàng? Biết chàng đang ở nơi nào ngoài mặt trận? Thôi thì lòng thương quý chàng xin được gửi đến nơi xa nhất mà chàng tới như Đậu Hiến đời Hậu Hán đánh đuổi giặc Bắc Thiền Vu đến núi Yên Nhiên, bởi vì: “Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại, Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua. ” Đời chiến binh là như thế, là “ôm yên, gối trống đã chôn, / Năm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh”, chưa kể đời chiến binh mấy người đi trở lại. Tình thương, nỗi nhớ của nàng là như thế. Nhưng: Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Dù là “Trời” thì Trời cũng khó mà hiểu thấu tình thương và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Các từ láy “thăm thẳm, đau đáu” càng làm tăng thêm sự không hiểu biết, không thấy được của Trời, và chỉ có người trong cuộc (người chinh phụ) mới cảm nhận rõ lòng mình. Cảnh thì buồn, đến cả cây cỏ và tiếng côn trùng cũng não ruột. Còn tình thì da diết thiết tha. Thể thơ song thất lục bát vốn thích hợp với tự sự, trong đoạn trích, bản dịch lại dùng phép so sánh, từ lặp và từ láy một cách tự nhiên càng làm tăng thêm giá trị nội dung.
Đọc đoạn trích người đọc cứ ngỡ ngàng rằng chỉ để miêu tả tình cảnh lẻ loi, thể hiện tâm trạng khát khao tình yêu của người chinh phụ. Nhưng nếu nghĩ sâu xa hơn thì đoạn trích bày tỏ sự oán ghét chiến tranh. Chiến tranh đã chia rẽ tình yêu, ngăn cách hạnh phúc lứa đôi của nhiều thế hệ, nhất là thế hệ trẻ, có lẽ vì thế mà tác phẩm đã được độc giả cùng thời hết sức tán thưởng. Nhiều người còn dịch Chinh phụ ngâm sang thơ Nôm (tức thơ tiếng Việt) để khúc ngâm được truyền bá rộng rãi hơn. Bản diễn Nôm hiện hành là bản dịch thành công nhất.
1. Thể thơ song thất lục bát
2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là:"bỏ rèm xuống, cuốn lên."
3.
•khi nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã đi đi lại lại, bỏ rèm xuống rồi lại cuốn lên.
•nhận xét về hành động: những hành động này cho thấy tâm trạng bồn chồn, lo lắng, không yên của người chinh phụ. Nàng không biết làm gì để vơi đi nỗi nhớ, nỗi lo cho chồng nơi chiến trường, chị biết làm lại những hành động vô thức, thể hiện sự cô đơn, trống vắng và khát khao tin tức từ chồng.
4.
+Biện pháp tu từ ấn tượng trong văn bản là điệp ngữ"bỏ rèm xuống , cuốn lên"
+ tác dụng: biện pháp điệp ngữ này nhấn mạnh sự bồn chồn, day dứt, không yên của người chinh phụ. Hành động lặp đi lặp lại không có mục đích cụ thể cho thấy sự trống trải trong tâm hồn, nỗi nhớ thương chồng da diết và sự chờ đợi mòn mỏi, vô vọng.
5.
-tâm trạng của người chinh phụ được thể hiện trong văn bản là nỗi nhớ thương, lo lắng, cô đơn và sự chờ đợi mòn mỏi, vô vọng.
-suy nghĩ về giá trị của cuộc sống hòa bình: qua tâm trạng của người chinh phụ, em nhận thấy giá trị to lớn của cuộc sống hòa bình. Hòa Bình mang lại sự sum vầy, hạnh phúc cho các gia đình ,không có sự chia ly, đau khổ vì chiến tranh. Cuộc sống hòa bình là điều đáng trân trọng và cần được giữ gìn.
1.
Bài làm
Nhân vật bà má Hậu Giang trong văn bản "bà mã Hậu Giang" là một người phụ nữ nam bộ điển hình, giàu tình yêu thương, kiên cường, dũng cảm và sẵn sàng hi sinh vì cách mạng. Bà má là hiện thân của những người mẹ Việt Nam anh hùng, luôn che chở đùm bọc các chiến sĩ cách mạng, trở thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến.
2.
Bài làm
Thế hệ trẻ ngày nay có trách nhiệm to lớn trong việc bảo vệ phát triển đất nước. Trách nhiệm đó được thể hiện qua nhiều hành động cụ thể, từ những việc nhỏ nhất đến những đóng góp lớn lao.
Là những thế hệ trẻ chúng ta cần không ngừng học tập, trau dồi kiến thức để nâng cao trình độ, tiếp thu những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc rèn luyện đạo đức, lối sống lành mạnh, có lý tưởng sống cao đẹp cũng là điều vô cùng quan trọng. Những thanh niên cần nâng cao ý thức và chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia. Tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lên án những hành vi xâm phạm, chống phá đất nước.
Chúng ta cần chung tay để phát triển kinh tế xã hội hiện nay . Trong mỗi chúng ta cần phải có lòng dũng cảm, kiên cường và có tinh thần yêu nước, những hành động ấy cho thấy sự đồng lòng đoàn kết của toàn dân trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, đổi lấy Hòa Bình.
Mỗi người đều cần rèn luyện thái độ nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng khách quan,phê phán những hành vi thiếu đạo đức, ích kỷ, hẹp hòi. Lên án những hành vi thiếu tôn trọng tổ quốc.
Là những người con của tổ quốc chúng ta cần biết cách sống hài hòa, tôn trọng người khác cũng như tôn trọng chính mình , không phân biệt kỳ thị văn hóa, dân tộc, sắc tộc, và không chà đạp lên tổ quốc, lên án những chiến tranh phi nghĩa.
1. Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát.
2. Văn bản "bà má hậu Giang "kể về sự việc ba má đã che giấu, bảo vệ cán bộ cách mạng khỏi sự truy lùng, lùng sục của địch.
3. Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc là: lùng sục, truy bắt cán bộ cách mạng, tra tấn đánh đập dã man người dân vô tội.
Nhận xét: đây là một nhân vật độc ác, tàn bạo, đại diện cho bản chất tàn ác của kẻ thù.
4.
Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh.
Tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ "con tao ,gan dạ anh hùng. Như rừng nước mạnh, như rừng chàm thơm!"là làm nổi bật sự dũng cảm, kiên cường của người chiến sĩ cách mạng. Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ.
5.
Bài làm
Hình tượng bà má hậu Giang được thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc của nhân dân ta. Ba má không chỉ là từ mẹ hiền, mà còn là biểu tượng của lòng dũng cảm, sự kiên cường và lòng yêu nước bất diệt. Tinh thần yêu nước của bà má thể hiện qua việc bà sẵn sàng che chở, bảo vệ cán bộ cách mạng, bất chấp hiểm nguy. Điều này cho thấy tình yêu tổ quốc không chỉ là những hành động lớn lao mà còn là sự hi sinh thầm lặng, là sự đồng lòng, đoàn kết của toàn dân trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc.
1.
Hữu chi là một nhân vật phụ nhưng có vai trò quan trọng trong việc làm nổi bật phẩm chất của nhân vật chính thúc khoản. Hữu chi là người cha hiền lành , yêu thương con cái. Khi bị yêu quái mất đi, ông vẫn luôn lo lắng cho sự an toàn của con trai. Tình yêu thương của ông đã trở thành động lực để thúc quản dũng cảm lên đường cứu cha. Qua đó, tác giả đã khắc họa thành công một người cha mẫu mực, đồng thời khẳng định giá trị của tình phụ tử trong cuộc sống
2.
Nghị luận về lòng tham:
Bài làm
Lòng tham là một trong những thói xấu phổ biến trong xã hội, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho cá nhân và cộng đồng. Từ câu chuyện của Lý Hữu Chi trong"truyện lý tướng quân"và những biểu hiện trong đời sống, có thể thấy rõ tác hại của lòng tham.
Lòng tham gây ra nhiều tác hại đối với con người. Khiến con người mất đi sự mù quáng, chạy theo những lợi ích vật chất mà không màng đến đạo đức, lương tâm. Điều này dẫn đến những hành vi sai trái như tham nhũng, lừa đảo, chiếm đoạt những tài sản của người khác không thuộc về mình. Ngoài ra lòng tham không chỉ ảnh hưởng đến các cá nhân mà còn ảnh hưởng đến xã hội.
Đối với cá nhân lòng tham khiến con người trở nên ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân mà không quan tâm đến người khác. Họ sẵn sàng chà đạp lên các mối quan hệ, thậm chí là người thân để đạt được mục đích. Điều này dẫn đến sự cô lập, mất niềm tin và sự tôn trọng từ những người xung quanh. Về phía xã hội lòng tham là nguyên nhân của nhiều tệ nạn xã hội. Khi con người tham lam, họ sẽ tìm mọi cách để đạt được điều mình muốn, bất chấp pháp luật và đạo đức. Điều này làm suy thoái các giá trị văn hóa đạo đức gây mất trật tự và an ninh xã hội .
Để hạn chế và loại bỏ thói quen xấu này cần có sự chung tay của các cá nhân và cộng đồng tham gia. Đối với cá nhân chúng ta cần rèn luyện bản thân lòng biết ơn, sự sẻ chia và lòng nhân ái. Học cách trân trọng những gì mình đang có, không chạy theo những giá trị vật chất phù phiếm. Thường xuyên nhìn lại bản thân, nhận biết và kiểm soát những ham muốn không chính đáng. Đối với xã hội chúng ta cần tăng cường giáo dục về tác hại của lòng tham và tầm quan trọng của lối sống đạo đức, lành mạnh. Xây dựng và thực thi các quy định pháp luật chặt chẽ để xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tạo một môi trường sống nơi mà các giá trị đạo đức được đề cao, người tốt được tôn vinh.
Lòng tham là một thói xấu cần được loại bỏ để xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc. Mỗi cá nhân cần ý thức được tác hại của nó và rèn luyện bản thân để sống có đạo đức, biết chia sẻ và trân trọng những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.
1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền thuyết
2. Ngôi kể thứ ba được sử dụng trong văn bản
3. Nhân vất chính trong văn bản là Thúc Khoản. Nhân vật này được mô tả với những nét tính cách như:
+Là người con hiếu thảo,luôn chăm ko cho cha
+Là người có lòng dũng cảm , không ngại khó khăn để cứu cha
+Là người thông mình , biết cách đối phó với yêu quái
4.
• Chi tiết hoang đường kì ảo: yêu quái hổ tình xuất hiện và bắt Lý Hưu Chi
• Tác dụng: làm tăng tính hấp dẫn, kịch tính cho câu chuyện, thể hiện sự đối lập giữa cái thiện với cái ác, đồng thời đề cao sức mạnh của con người khi đối mặt với khó khăn.
5.
Bài làm
Văn bản ngợi ca tình phụ tử thiêng liêng, đề cao lòng hiếu thảo. Sự dũng cảm và trí thông mình của con người. Cần phải biết yêu thương. Hiếu thảo với cha mẹ . Phải dũng cảm đoiis mặt với khó khăn, thử thách á cuộc sống.
a) Ta có:
KBC=BAD (2 góc ở vị trí so le trong) Mà CHD=BAD (2 góc đồng vị) Suy ra: CHD=KBC H=K=90° Xét tam giác BCK và DCH CDH=KBC
⇒ ∆BCK ~ ∆DCH (g.g) b) Tứ giác AKCH có: AKC+AHC=90°+90°= 180° Suy ra: AKCH nội tiếp đường tròn đường kính AC Suy ra: KAC=KHC (góc nội tiếp cùng chắn cung KC) (1) Và ˆ C K H = ˆ C H A (góc nội tiếp cùng chắn cung HC) Mà ˆ H A C = ˆ B C A (2 góc so le trong) ⇒ ˆ C K H = ˆ B C A (2) Từ (1) và (2) suy ra: tam giác CKH đồng dạng tam giác BCA (g.g) c) Do ∆BCK ∽ ∆DCH (g.g) nên CKHC=BCDC(3) ∆CKH ∽ ∆BCA (g.g) nên CKBC=KHAC(4) Từ (3): CKBC=CHDC(5) Từ (4) và (5); C K B C = K H A C = C H D C = sin ˆ C D H Mà ˆ C D H = BAD (đồng vị) Nên: KH AC=sinˆBAD hay HK = AC.sin d) ˆCDH=ˆBAD=60° DC = AB = 4 Tam giác DHC vuông có: sin ˆ CDH=CHD H D C ⇒ C H = D C . sin ˆ C D H = 4. sin 60 ° = 2 √ 3 D √DC2−CH2=√42−2232=2 AH = AD + DH = 5 + 2 = 7 SAHC = 12. AH.C H=1 2.7.2 √3 =7√3 BC = AD = 5 sin KBC=KCBC ⇒ KC=BC.sinKBC=BC.sinCDH=5√32 BK=√B C2−KC2=52 AK = AB + BK = 132 SACK=12.AK.CK =12.132.5√32=65√38 Vậy SAKCH = SACH + SACK = 7√3+65√38=121√38"
a) Ta có:
KBC=BAD (2 góc ở vị trí so le trong) Mà CHD=BAD (2 góc đồng vị) Suy ra: CHD=KBC H=K=90° Xét tam giác BCK và DCH CDH=KBC
⇒ ∆BCK ~ ∆DCH (g.g) b) Tứ giác AKCH có: AKC+AHC=90°+90°= 180° Suy ra: AKCH nội tiếp đường tròn đường kính AC Suy ra: KAC=KHC (góc nội tiếp cùng chắn cung KC) (1) Và ˆ C K H = ˆ C H A (góc nội tiếp cùng chắn cung HC) Mà ˆ H A C = ˆ B C A (2 góc so le trong) ⇒ ˆ C K H = ˆ B C A (2) Từ (1) và (2) suy ra: tam giác CKH đồng dạng tam giác BCA (g.g) c) Do ∆BCK ∽ ∆DCH (g.g) nên CKHC=BCDC(3) ∆CKH ∽ ∆BCA (g.g) nên CKBC=KHAC(4) Từ (3): CKBC=CHDC(5) Từ (4) và (5); C K B C = K H A C = C H D C = sin ˆ C D H Mà ˆ C D H = BAD (đồng vị) Nên: KH AC=sinˆBAD hay HK = AC.sin d) ˆCDH=ˆBAD=60° DC = AB = 4 Tam giác DHC vuông có: sin ˆ CDH=CHD H D C ⇒ C H = D C . sin ˆ C D H = 4. sin 60 ° = 2 √ 3 D √DC2−CH2=√42−2232=2 AH = AD + DH = 5 + 2 = 7 SAHC = 12. AH.C H=1 2.7.2 √3 =7√3 BC = AD = 5 sin KBC=KCBC ⇒ KC=BC.sinKBC=BC.sinCDH=5√32 BK=√B C2−KC2=52 AK = AB + BK = 132 SACK=12.AK.CK =12.132.5√32=65√38 Vậy SAKCH = SACH + SACK = 7√3+65√38=121√38"
Gọi giá niêm yết của mặt hàng A và mặt hàng B lần lượt là x, y (đồng) (x > 0, y > 0).
Mặt hàng A sau khi giảm 20% giá niêm yết thì có giá là x.
(100% – 20%) = x.80% = 0,8x (đồng).
Mặt hàng B sau khi giảm 15% giá niêm yết thì có giá là y.
(100% – 15%) = y.85% = 0,85y (đồng).
Theo bài, khách hàng mua 2 món hàng A và 1 món hàng B thì phải trả số tiền là 362 000 đồng nên ta có phương trình:
2.0,8x + 0,85y = 362 000, hay 1,6x + 0,85y = 362 000.
Nếu mua trong khung giờ vàng: ⦁ mặt hàng A được giảm giá 30% so với giá niêm yết nên lúc này, mặt hàng A có giá là x.(100% – 30%) = x.70% = 0,7x (đồng).
⦁ mặt hàng B được giảm giá 25% so với giá niêm yết nên lúc này, mặt hàng B có giá là x.(100% – 25%) = x.75% = 0,75y (đồng). Theo bài, khách hàng mua 3 món hàng A và2 món hàng B trong khung giờ vàng trả số tiền là 552 000 đồng nên ta có phương trình:
3.0,7x + 2.0,75y = 552 000, hay 2,1x + 1,5y = 552 000.
Ta có hệ phương trình: {1,6x+0,85y=362000 2,1x+1,5y=552000
Nhân hai vế của phương trình thứ nhất với 210 và nhân hai vế của phương trình thứ hai với 160, ta được hệ phương trình sau: {336x+178,5y=76020000
336x+240y=8832000 Trừ từng vế của phương trình thứ hai cho phương trình thứ nhất, ta được phương trình: 61,5y = 12 300 000. (1)
Giải phương trình (1): 61,5y = 12 300 000 y = 200 000.
Thay y = 200 000 vào phương trình 1,6x + 0,85y = 362 000
ta được: 1,6x + 0,85 . 200 000 = 362 000. (2)
Giải phương trình (2):Giải phương trình (2):
1,6x + 0,85 . 200 000 = 362 000 1,6x + 170 000 = 362 000
1,6x = 192 000 x = 120 000.
Vậy giá niêm yết của mặt hàng A là 120 000 đồng và giá niêm yết của mặt hàng B là 200 000 đồng.
(2x + 1)2 – 9x2 = 0 (2x + 1)2 – (3x)2 = 0 (2x + 1 – 3x)(2x + 1 + 3x) = 0 (–x + 1)(5x + 1) = 0. Ta giải hai phương trình sau: ⦁ –x + 1 = 0, suy ra x = 1. ⦁ 5x + 1 = 0 hay 5x = –1, suy ra Vậy phương trình đã cho có nghiệm là x = 1 và