Nguyễn Hữu Tùng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Văn bản "Bà má Hậu Giang" được viết theo thể thơ song thất lục bát.
Câu 2.
Sự việc xảy ra trong văn bản: Một tên giặc xông vào túp lều, tra khảo và dùng bạo lực để bắt bà má khai chỗ ở của du kích.
Câu 3.
Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc:
– Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà dân một cách thô bạo.
– Tra khảo, rống hét, buộc bà má phải khai nơi ở của du kích.
– Đe doạ chém đầu khi bà má không khai.
– Đạp lên đầu bà má, dùng lưỡi gươm lạnh kề hông để uy hiếp.
* Nhận xét về nhân vật tên giặc:
– Tên giặc hiện lên với bản chất tàn bạo, hung hãn, mất nhân tính.
– Hắn là đại diện cho tội ác của kẻ thù xâm lược, gieo rắc đau thương và mất mát của nhân dân ta.
Câu 4.
– Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh. Những người lính được so sánh với rừng đước và rừng chàm.
– Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
+ Khẳng định sức mạnh chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, bất khuất của những người lính trong kháng chiến.
+ Thể hiện niềm tin, sự tự hào lớn lao của bà má về những người lính, người con của cách mạng.
+ Hình ảnh so sánh gần gũi, bình dị, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ.
Câu 5.
Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc:
– Nhân dân dù gian khổ, hiểm nguy vẫn một lòng trung thành với cách mạng, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.
– Tinh thần kiên cường, bất khuất được thể hiện ở chỗ không chùn bước trước mọi hiểm nguy, áp bức, sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ lý tưởng.
– Lòng dũng cảm phi thường được thể hiện qua việc vượt lên nỗi sợ hãi bản năng để đứng vững, chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần.
Câu 1.
Bà má Hậu Giang là một trong những hình tượng người mẹ cách mạng tiêu biểu và cao đẹp nhất trong thơ Tố Hữu. Bà hiện lên với vẻ ngoài chất phác, lam lũ của người dân Nam Bộ, nhưng bên trong lại ẩn chứa một tinh thần kiên cường, bất khuất đáng khâm phục. Bà là người mẹ âm thầm nuôi giấu và che chở cán bộ cách mạng, xem các chiến sĩ như con ruột của mình. Phẩm chất anh hùng của bà được thể hiện rõ nét nhất khi đối diện với kẻ thù. Khi bị giặc bắt giữ và tra khảo dưới họng súng đen ngòm, Bà má vẫn giữ vững khí tiết, không hề run sợ hay khai báo. Câu nói đầy khí phách: "Má có chết, một mình má chết. / Cho các con trừ hết quân Tây!" đã khẳng định tinh thần thà hy sinh bản thân để bảo vệ cách mạng. Bà má là hiện thân sinh động của lòng yêu nước nồng nàn, sự dũng cảm tuyệt đối và đức hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam, trở thành biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Câu 2.
Bài thơ "Bà má Hậu Giang" đã khắc họa một hình tượng cao đẹp về người mẹ Việt Nam anh hùng, người đã hy sinh thân mình để bảo vệ cán bộ cách mạng. Tinh thần kiên trung, bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn của Bà má chính là minh chứng hùng hồn nhất cho sự hy sinh của các thế hệ đi trước vì độc lập dân tộc. Từ câu chuyện lịch sử đó, thế hệ trẻ chúng ta phải nhận thức sâu sắc về trách nhiệm kế thừa, bảo vệ và phát triển đất nước trong bối cảnh hiện đại.
Trước hết, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc không chỉ còn là việc cầm súng, mà là sự bảo vệ trên mọi mặt trận. Thanh niên cần tích cực giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kiên quyết đấu tranh (nhất là trên không gian mạng) chống lại các luận điệu xuyên tạc, tiêu cực gây chia rẽ. Bên cạnh đó, chúng ta phải có ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia một cách sâu sắc, sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ công dân khi Tổ quốc cần.
Quan trọng hơn, trách nhiệm xây dựng đất nước được thể hiện qua hành động không ngừng học tập và rèn luyện. Thế hệ trẻ phải nỗ lực nâng cao tri thức, làm chủ khoa học công nghệ, trau dồi đạo đức để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao, có đủ năng lực để đưa đất nước hội nhập quốc tế. Mỗi thanh niên cần mạnh dạn sáng tạo, khởi nghiệp, tham gia vào các hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, và phát triển kinh tế địa phương. Đó chính là những hành động cụ thể nhất để chuyển hóa lòng yêu nước thành sức mạnh vật chất và tinh thần, góp phần vào sự phát triển bền vững, làm cho Việt Nam trở nên giàu mạnh, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, xứng đáng với sự hy sinh của Bà má Hậu Giang và các thế hệ cha anh.
Câu 1.
Người chinh phụ trong đoạn trích là hình tượng tiêu biểu cho nỗi đau và sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ trong chiến tranh. Nàng sống trong sự cô đơn tột cùng, ngày đêm ôm nỗi nhớ chồng nơi biên ải xa xôi. Nỗi buồn của nàng kéo dài qua "mấy xuân" mà tin chồng vẫn "vắng không". Sự chờ đợi vô vọng đã biến thành những hành động bất lực như gieo quẻ "Gieo bói tiền" để tìm kiếm chút hy vọng mong manh, hay sự day dứt thể hiện qua việc "Ngồi rèm thưa rủ thác đôi phen" – không biết nên buông rèm để cố quên hay cuộn rèm lên để tiếp tục ngóng trông. Tất cả đã khắc họa một tâm trạng bi thiết, mâu thuẫn, tuyệt vọng đến mức chỉ còn biết "Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi". Qua đó, tác phẩm không chỉ lên án chiến tranh mà còn thể hiện niềm cảm thông sâu sắc với những số phận người phụ nữ bị chiến tranh hủy hoại tuổi xuân và hạnh phúc.
Câu 2.
"Chinh phụ ngâm khúc" là tiếng lòng bi thiết của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh phong kiến. Hình ảnh người chinh phụ cô đơn, ngày ngày ngóng trông chồng nơi biên ải xa xôi đã khắc họa chân thực những mất mát, đau thương khủng khiếp do chiến tranh gây ra, từ đó đặt ra trách nhiệm lớn lao cho thế hệ trẻ hôm nay trong việc trân trọng và giữ gìn cuộc sống hòa bình.
Chiến tranh không chỉ là sự mất mát máu xương trên chiến trường, mà còn là sự hủy hoại hạnh phúc, tuổi xuân và tinh thần của những người ở hậu phương. Người chinh phụ đã mất đi niềm vui sum họp, phải sống trong cảnh chia ly, chờ đợi vô vọng qua "mấy xuân" mà tin chồng vẫn "vắng không". Nỗi buồn đã biến thành sự bế tắc, tuyệt vọng đến mức nàng phải tìm đến "gieo bói tiền" để cầu xin chút may rủi, hy vọng. Sự cô đơn và nỗi lo lắng, bất an dai dẳng đã biến tuổi xuân của nàng thành những chuỗi ngày "bi thiết", cho thấy chiến tranh đã tước đi quyền sống trọn vẹn và hạnh phúc của bao thế hệ phụ nữ. Nỗi đau của người chinh phụ là tiếng chuông cảnh tỉnh về sự tàn phá vô hình nhưng dai dẳng của chiến tranh đối với tâm hồn con người.
Thế hệ trẻ chúng ta, những người đang được hưởng thành quả hòa bình, cần ý thức sâu sắc trách nhiệm trân trọng và giữ gìn cuộc sống yên bình này.
Trân trọng hòa bình trước hết là sự biết ơn và ghi nhớ những hy sinh của cha ông. Chúng ta cần học tập và nghiên cứu lịch sử để hiểu được giá trị thực sự của độc lập, tự do.
Giữ gìn hòa bình được thể hiện qua hành động xây dựng đất nước vững mạnh từ bên trong. Mỗi người trẻ phải nỗ lực học tập, rèn luyện tri thức và đạo đức, làm chủ khoa học công nghệ, trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao. Một đất nước giàu về kinh tế và mạnh về tri thức chính là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ độc lập.
Đồng thời, chúng ta cần tích cực tham gia vào các hoạt động giữ gìn đoàn kết dân tộc, đấu tranh một cách thông minh và tỉnh táo trên không gian mạng để bảo vệ chủ quyền quốc gia và hình ảnh đất nước.
Nỗi sầu của người chinh phụ là lời nhắc nhở rằng hạnh phúc cá nhân luôn bị đe dọa bởi chiến tranh. Thế hệ trẻ cần biến sự biết ơn thành hành động thiết thực, nỗ lực không ngừng để xây dựng một đất nước Việt Nam văn minh, phồn thịnh, không chỉ để duy trì hòa bình mà còn để bảo vệ vĩnh viễn những hạnh phúc nhỏ bé, không để bất kỳ người phụ nữ nào phải chịu cảnh "bi thiết" như nàng chinh phụ ngày xưa.
Câu 1.
Thể thơ song thất lục bát.
Câu 2.
Dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ: Thấy nhạn luống tưởng thư phong.
Câu 3.
− Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã:
+ Sắm áo bông cho chồng.
+ Định "đề chữ gấm" để xin cho chồng được về nhà.
+ Gieo bói tiền.
− Nhận xét: Những hành động trên cho thấy:
+ Tình cảm yêu thương chân thành, sâu sắc mà người chinh phụ dành cho người chinh phu.
+ Sự lo lắng, quan tâm của người chinh phụ.
+ Sự mong mỏi, nhớ mong đến khắc khoải, bồn chồn của chinh phụ.
Câu 4.
− HS lựa chọn một biện pháp tu từ ấn tượng trong văn bản, chỉ ra và phân tích.
− Ví dụ: Biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.:
+ Biện pháp nhân hoá được thể hiện ở chỗ ngọn đèn − vốn là vật vô tri, vô giác song lại được miêu tả với những từ ngữ như "có biết" và "chẳng biết.
+ Tác dụng: Ngọn đèn ấy thường ngày vẫn luôn đồng hành cùng người chinh phụ, là người bạn duy nhất để người chinh phụ bày tỏ nỗi lòng bi thiết nỗi buồn rầu của mình. Thế nhưng dẫu ngọn đèn có biết nhưng nó cũng chỉ là vật vô tri, vô giác nên chẳng thể nào an ủi, vỗ về người chinh phụ. Chính vì thế, hình ảnh này vừa có tác dụng làm cho hình ảnh thơ trở nên sinh động, gần gũi hơn, vừa góp phần khắc hoạ sâu sắc nỗi cô đơn cùng cực của người chinh phụ khi không nhận được hồi âm của người chồng đang chinh chiến phương xa.
Câu 5.
− Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng: Buồn tủi, cô đơn, khắc khoải mong ngóng tin chồng, lo lắng cho an nguy của chồng nơi trận mạc.
− Từ đây, HS tự rút ra cho mình suy nghĩ về giá trị của cuộc sống hoà bình. Ví dụ: Từ câu chuyện của người chinh phụ, em càng thêm trân quý cuộc sống của những ngày hoà bình. Bởi nhờ có hoà bình, con người mới được hưởng trọn vẹn hạnh phúc gia đình. Vì vậy, chúng ta ngày hôm nay cần biết trân trọng và gìn giữ hoà bình.
Gọi tốc dộ của ca nô khi nước yên lặng là x (x > 6, km/h).
Tốc độ ca nô đi xuôi dòng là x + 6 (km/h).
Ta có x ≤ 40 nên x + 4 ≤ 40 + 6 hay x + 6 ≤ 46.
Gọi s (km) là quãng đường ca nô đi được trong 2 giờ 30 phút 2,5 giờ).
Ta có: s = 2,5(x + 6) (km).
Do x + 6 ≤ 46 nên 2,5(x + 6) ≤ 2,5.46 = 115 hay s ≤ 115.
Vậy quãng đường ca nô đi được trong 2 giờ 30 phút không vượt quá 115 km.
a) (2x + 1)2 – 9x2 = 0
(2x + 1)2 – (3x)2 = 0
(2x + 1 – 3x)(2x + 1 + 3x) = 0
(–x + 1)(5x + 1) = 0.
Ta giải hai phương trình sau:
⦁ –x + 1 = 0, suy ra x = 1.
⦁ 5x + 1 = 0 hay 5x = –1, suy ra x=-1/5
Vậy phương trình đã cho có nghiệm là x = 1 và x=-1/5
B )
Hệ phương trình:
{ 5x - 4y = 3
{ 2x + y = 4
Ta có:
y = 4 - 2x (từ phương trình thứ 2)
Thay vào phương trình thứ 1:
5x - 4(4-2x) = 3
5x - 16 + 8x = 3
13x = 19
x = 19/13
Thay x vào y = 4 - 2x:
y = 4 - 2(19/13)
= 4 - 38/13
= (52-38)/13
= 14/13
Vậy nghiệm của hệ phương trình là:
x = 19/13, y = 14/13
Gọi giá niêm yết của mặt hàng A là x (đồng) và mặt hàng B là y (đồng).
Trong đợt khuyến mại:
Mặt hàng A giảm 20% suy ra giá bán là 0,8x
Mặt hàng B giảm 15% suy ra giá bán là 0,85y
Khách hàng mua 2 món A và 1 món B trả 362000 đồng:
2(0,8x) + 0,85y = 362000
1,6x + 0,85y = 362000 (1)
Trong khung giờ vàng:
Mặt hàng A giảm 30% suy ra giá bán là 0,7x
Mặt hàng B giảm 25% suy ra giá bán là 0,75y
Khách hàng mua 3 món A và 2 món B trả 552000 đồng:
3(0,7x) + 2(0,75y) = 552000
2,1x + 1,5y = 552000 (2)
Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình:
{ 1,6x + 0,85y = 362000
{ 2,1x + 1,5y = 552000
Giải hệ phương trình:
(1) y = (362000 - 1,6x)/0,85
Thay vào (2):
2,1x + 1,5(362000-1,6x)/0,85 = 552000
2,1x + 1,5(425882 - 1,882x) = 552000
2,1x + 638823 - 2,823x = 552000
-0,723x = -86823
x = 120000
Thay x vào (1):
1,6(120000) + 0,85y = 362000
192000 + 0,85y = 362000
0,85y = 170000
y = 200000
Vậy:
-Giá niêm yết mặt hàng A là 120000 đồng
- Giá niêm yết mặt hàng B là 200000 đồng
a) ΔBKC∼ΔDHC
ΔBKC∼ΔDHC (g. g)
Vì K^=H^=90∘
D^=B^
KCHC=BCDC
hay KCHC=BCAB
HCKC = ABBC
Xét tứ giác AKCHcó:
A^+HCK^=180∘ ;A^+ABC^=180∘
Suy ra: ABC^=HCK^
Tđó suy ra: ΔCKH~ΔBCA
ΔCKH∼ΔBCA (c-g-c)
b) ΔCKH∼ΔBCA suy ra
HKAC=CKBC
ACHK = BCCK
HK=AC.CKBC=AC.sin
KBC^HK=AC. BCCk =AC.sinKBC^ mà BAD^=KBC^
BAD^ = KBC^(cặp góc đồng vị) nên HK=AC.sinBAD^
HK=AC.sin
BAD^ .ΔBKC∼ΔDHC
ΔBKC∼ΔDHC (g. g)
Vì K^=H^=90∘K^ = H^ =90 ∘
D^=B ^ (cùng bằng A^ )
KCHC=BCDC hay KCHC=BCAB
HCKC = ABBC (*)
Xét tứ giác AKCH có:
A^+HCK^=180∘ ;A^+ABC^=180∘
Suy ra: ABC^=HCK^ (**)
Từ (*) và (**) suy ra:
ΔCKH∼ΔBCA (c-g-c)
b) ΔCKH∼ΔBCA
ΔCKH∼ΔBCA suy ra HKAC=CKBC
HK=AC.CKBC
AC.sinKBC^
HK=AC. BCCK
=AC.sin KBC^
mà BAD^=KBC^(cặp góc đồng vị) nên HK=AC.sin
BAD^HK=AC.sin BAD^
.
Quãng đường mà tàu B đi được sau 1,5 giờ là:
1,5×20=30 ( hải lí )
Quãng đường mà tàu C đi được sau 1,5 giờ là:
1,5×15=22,5 ( hải lí ).
Xét △ABC, ta có:
BC2=AB2+AC2−2AB.AC.cos60o ( định lý cosin )
⇔BC2=302+22,52−2.30.22,5.cos60o
⇔BC2 ≈731,25 ( hải lí )
⇒BC≈27,04 ( hải lí )
Vậy khoảng cách của hai tàu sau 1,5 giờ là 27,04 hải lí.
Câu1. Bài làm. Nhân vật Hữu Chi trong “Chuyện Lý Tướng Quân” hiện lên là một con người giàu lòng trung nghĩa, can đảm và có trí tuệ. Khi bị giặc bắt, Hữu Chi không hề run sợ, mà vẫn giữ vững khí tiết của một người quân tử. Dù bị dụ dỗ hay tra tấn, ông vẫn kiên quyết không khai bí mật quân cơ, thể hiện tinh thần trung thành tuyệt đối với nước, với tướng quân Lý Thường Kiệt. Ở Hữu Chi, ta còn thấy vẻ đẹp của trí thông minh và bản lĩnh khi ông tìm cách đối đáp khôn khéo để giữ danh dự và bảo toàn lòng trung. Hành động và lời nói của ông thể hiện rõ phẩm chất cao quý của người anh hùng thời loạn – coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, chỉ trọng lòng trung và nghĩa lớn. Nhân vật Hữu Chi vì thế không chỉ là tấm gương sáng ngời về lòng trung dũng, mà còn góp phần làm nổi bật tinh thần yêu nước và khí phách kiên cường của con người Việt Nam trong buổi đầu chống giặc ngoại xâm. Câu2. Bài làm. Trong cuộc sống, ai cũng có ước muốn được hạnh phúc, được thành công và có cuộc sống đầy đủ. Tuy nhiên, nếu những mong muốn ấy vượt quá giới hạn, biến thành lòng tham vô độ, con người sẽ dễ đánh mất nhân cách và hạnh phúc thật sự. Câu chuyện về Lý Hữu Chi trong “Chuyện Lý Tướng Quân” là một minh chứng rõ ràng cho hậu quả nặng nề mà lòng tham mang lại.
Lòng tham là sự ham muốn quá mức, không biết điểm dừng, luôn muốn chiếm hữu thêm dù bản thân đã có đủ. Trong xã hội hiện nay, lòng tham biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau: có người vì tiền mà sẵn sàng lừa lọc, hãm hại người khác; có người vì danh lợi mà quên đi đạo lý; thậm chí có học sinh vì điểm số mà gian lận trong thi cử. Ban đầu, lòng tham có thể đem lại cho con người chút lợi ích nhỏ, nhưng về lâu dài, nó gặm nhấm đạo đức, hủy hoại nhân cách và đánh mất niềm tin của người khác. Như Lý Hữu Chi, chỉ vì tham lam quyền lực và lợi lộc mà trở thành kẻ phản bội, cuối cùng phải nhận lấy hình phạt đau đớn và bị khinh bỉ muôn đời.
Tác hại của lòng tham không chỉ với cá nhân mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội. Nó khiến con người sống ích kỷ, chỉ biết “tôi” mà quên “chúng ta”, làm cho các mối quan hệ trở nên giả dối và thiếu lòng tin. Để hạn chế thói xấu này, mỗi người cần học cách biết đủ, sống trung thực, tôn trọng giá trị lao động chân chính. Gia đình và nhà trường phải thường xuyên giáo dục đạo đức, khơi dậy lòng nhân ái, tinh thần sẻ chia. Xã hội cũng cần có pháp luật nghiêm minh để răn đe những hành vi tham lam, vụ lợi.
Từ câu chuyện của Lý Hữu Chi, ta thấm thía rằng lòng tham chính là con dao hai lưỡi, có thể khiến con người đánh mất tất cả. Mỗi chúng ta cần sống giản dị, biết đủ, biết dừng lại đúng lúc để giữ được nhân cách trong sáng và xây dựng một xã hội công bằng, tốt đẹp hơn.