Nguyễn Thị Nga

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Nga
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Em sẽ kiềm chế sở thích của mình và mua thứ cần thiết để khi nào có tiền thì sẽ đáp ứng nhu cầu của mình sau

) Ta có ( 2 x + 1 ) 2 − 9 x 2 = 0 (2x+1) 2 −9x 2 =0 ( 2 x + 1 − 3 x ) ( 2 x + 1 + 3 x ) = 0 (2x+1−3x)(2x+1+3x)=0 ( − x + 1 ) ( 5 x + 1 ) = 0 (−x+1)(5x+1)=0 + Giải phương trình − x + 1 = 0 −x+1=0 x = 1 x=1 + Giải phương trình 5 x + 1 = 0 5x+1=0 x = − 1 5 x= 5 −1 Vậy phương trình có hai nghiệm là x = 1 x=1 và x = − 1 5 x= 5 −1 . b) Ta có: { 5 x − 4 y = 3 2 x + y = 4 { 5x−4y=3 2x+y=4 { 5 x − 4 y = 3 8 x + 4 y = 16 { 5x−4y=3 8x+4y=16 { 13 x = 19 2 x + y = 4 { 13x=19 2x+y=4 { x = 19 13 y = 14 13 ⎩ ⎨ ⎧ x= 13 19 y= 13 14 Vậy hệ phương trình đã cho có nghiệm ( x ; y ) = ( 19 13 ; 14 13 ) (x;y)= ( 13 19 ; 13 14 ).

H∈AB). 1 , 5 1,5 giờ tàu B B chạy được quãng đường là: A B = 20.1 , 5 = 30 AB=20.1,5=30 (hải lí). Sau 1 , 5 1,5 giờ tàu C C chạy được quãng đường là: A C = 15.1 , 5 = 22 , 5 AC=15.1,5=22,5 (hải lí). Xét tam giác A H C AHC vuông tại H H, ta có: C H = A C . sin ⁡ A = 22 , 5. sin ⁡ 6 0 ∘ = 45 3 4 CH=AC.sinA=22,5.sin60 ∘ = 4 45 3 (hải lí). A H = A C . cos ⁡ A = 22 , 5. cos ⁡ 6 0 ∘ = 11 , 25 AH=AC.cosA=22,5.cos60 ∘ =11,25 (hải lí). Do đó B H = A B − A H = 30 − 11 , 25 = 18 , 75 BH=AB−AH=30−11,25=18,75 (hải lí). Mặt khác, tam giác C H B CHB vuông tại H H, áp dụng định lí Pythagore ta có: B C = B H 2 + C H 2 = ( 18 , 75 ) 2 + ( 45 3 4 ) 2 ≈ 27 , 04 BC= BH 2 +CH 2 = (18,75) 2 +( 4 45 3 ) 2 ≈27,04 (hải lí). Vậy sau 1 , 5 1,5 giờ tàu B B cách tàu C C là 27 , 04 27,04 hải lí.

) Δ B K C ∽ Δ D H C ΔBKC∽ΔDHC (g. g) Vì K ^ = H ^ = 9 0 ∘ K = H =90 ∘ D ^ = B ^ D = B (cùng bằng A ^ A ) K C H C = B C D C HC KC = DC BC hay K C H C = B C A B HC KC = AB BC (*) Xét tứ giác A K C H AKCH có: A ^ + H C K ^ = 18 0 ∘ A + HCK =180 ∘ ; A ^ + A B C ^ = 18 0 ∘ A + ABC =180 ∘ Suy ra: A B C ^ = H C K ^ ABC = HCK (**) Từ (*) và (**) suy ra: Δ C K H ∽ Δ B C A ΔCKH∽ΔBCA (c-g-c) b) Δ C K H ∽ Δ B C A ΔCKH∽ΔBCA suy ra H K A C = C K B C AC HK = BC CK H K = A C . C K B C = A C . sin ⁡ K B C ^ HK=AC. BC CK =AC.sin KBC mà B A D ^ = K B C ^ BAD = KBC (cặp góc đồng vị) nên H K = A C . sin ⁡ B A D ^ HK=AC.sin BAD .

Gọi x , y x,y(đồng) lần lượt là giá niêm yết của mỗi mặt hàng A A và B B ( x > 0 , y > 0 ) (x>0,y>0) Một khách hàng mua hai món hàng A A và một món hàng B B thì phải trả số tiền là 362 000 362000 đồng nên ta có: 80 % x . 2 + 85 % y = 362 000 80%x.2+85%y=362000 hay 1 , 6 x + 0 , 85 y = 362 000 1,6x+0,85y=362000 (1) Trong khung giờ vàng khách hàng mua ba món hàng A A và hai món hàng B B trong khung giờ vàng nên phải trả số tiền là 552 000 552000 đồng nên ta có: 70 % x . 3 + 75 % y . 2 = 552 000 70%x.3+75%y.2=552000 hay 2 , 1 x + 1 , 5 y = 552 000 2,1x+1,5y=552000 (2) Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình: { 1 , 6 x + 0 , 85 y = 362 000 2 , 1 x + 1 , 5 y = 552 000 { 1,6x+0,85y=362000 2,1x+1,5y=552000 Giải hệ phương trình ta được: { x = 120 000 y = 200 000 { x=120000 y=200000 Vậy giá niêm yết của mặt hàng A A là 120 000 120000 đồng, mặt hàng B B là 200 000 200000 đồng.

Gọi v ( km/ h) là vận tốc của ca nô trong nước yên. Theo đề,v nhỏ hơn hoặc bằng 40.

Vận tốc dòng nước là : u = 6 km/h.

Vận tốc cao nọ khi xuôi dòng là: và xuôi= v+u nhỏ hơn hoặc bằng 40+6=46 km/h.

Thời gian đi là 2 giờ 30 phút=2,5 giờ.

Đo đó quãng đường lớn nhất s lớn bằng

S lớn=và xuôi.t nhỏ hơn hoặc bằng 46.2,5=46.5/2=230/2 = 115 ( km).

Vậy quãng đường ca nô đi được trong thời gian đã cho không vượt quá 115 km.

Câu 1. Văn bản "Bà má Hậu Giang" được viết theo thể thơ song thất lục bát. Câu 2. Sự việc xảy ra trong văn bản: Một tên giặc xông vào túp lều, tra khảo và dùng bạo lực để bắt bà má khai chỗ ở của du kích. Câu 3. Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc: – Đạp rơi liếp mành, xông vào nhà dân một cách thô bạo. – Tra khảo, rống hét, buộc bà má phải khai nơi ở của du kích. – Đe doạ chém đầu khi bà má không khai. – Đạp lên đầu bà má, dùng lưỡi gươm lạnh kề hông để uy hiếp. * Nhận xét về nhân vật tên giặc: – Tên giặc hiện lên với bản chất tàn bạo, hung hãn, mất nhân tính. – Hắn là đại diện cho tội ác của kẻ thù xâm lược, gieo rắc đau thương và mất mát của nhân dân ta. Câu 4. – Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ là so sánh. Những người lính được so sánh với rừng đước và rừng chàm. – Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh: + Khẳng định sức mạnh chiến đấu bền bỉ, dẻo dai, bất khuất của những người lính trong kháng chiến. + Thể hiện niềm tin, sự tự hào lớn lao của bà má về những người lính, người con của cách mạng. + Hình ảnh so sánh gần gũi, bình dị, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ. Câu 5. Tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc: – Nhân dân dù gian khổ, hiểm nguy vẫn một lòng trung thành với cách mạng, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc. – Tinh thần kiên cường, bất khuất được thể hiện ở chỗ không chùn bước trước mọi hiểm nguy, áp bức, sẵn sàng đối mặt với cái chết để bảo vệ lý tưởng. – Lòng dũng cảm phi thường được thể hiện qua việc vượt lên nỗi sợ hãi bản năng để đứng vững, chống lại kẻ thù mạnh hơn nhiều lần.

Câu 1:

Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì. Câu 2. Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba. Câu 3. − Nhân vật chính: Lý Hữu Chi. − Đặc điểm nhân vật: Dữ tợn, tham lam, độc ác, ích kỉ, bạo ngược, coi thường đạo lí. Câu 4. + Chi tiết kì ảo: Thúc Khoản xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn. + Tác dụng: ++ Làm tăng thêm sức hấp dẫn, li kì cho truyện. ++ Nhấn mạnh luật nhân quả, sự công minh của "lưới trời", qua đó thể hiện chủ đề, tư tưởng của truyện và nhấn mạnh đạo lí ở hiền gặp lành, ác giả ác báo. Câu 5. – Ý nghĩa văn bản: Qua truyện Chuyện Lý tướng quân, truyện không chỉ lên án, tố cáo Lý tướng quân đã lạm quyền mà trở nên tàn ác, tham lam, coi thường đạo lí, làm nhiều chuyện ác mà còn từ chính câu chuyện ấy, khẳng định sự công minh của "lưới trời", nhấn mạnh lối sống "ác giả ác báo, thiện giả thiện báo". – Từ đó có thể là bài học về việc sống lương thiện, công bằng, chính trực; bài học về ý nghĩa của lòng tham, học cách sống biết đủ, sống có trách nhiệm với cộng đồng;…

Câu 1. Thể thơ song thất lục bát. Câu 2. Dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ: Thấy nhạn luống tưởng thư phong. Câu 3. − Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã: + Sắm áo bông cho chồng. + Định "đề chữ gấm" để xin cho chồng được về nhà. + Gieo bói tiền. − Nhận xét: Những hành động trên cho thấy: + Tình cảm yêu thương chân thành, sâu sắc mà người chinh phụ dành cho người chinh phu. + Sự lo lắng, quan tâm của người chinh phụ. + Sự mong mỏi, nhớ mong đến khắc khoải, bồn chồn của chinh phụ. Câu 4. −Biện pháp tu từ nhân hoá trong hai dòng thơ: Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.: + Biện pháp nhân hoá được thể hiện ở chỗ ngọn đèn − vốn là vật vô tri, vô giác song lại được miêu tả với những từ ngữ như "có biết" và "chẳng biết. + Tác dụng: Ngọn đèn ấy thường ngày vẫn luôn đồng hành cùng người chinh phụ, là người bạn duy nhất để người chinh phụ bày tỏ nỗi lòng bi thiết nỗi buồn rầu của mình. Thế nhưng dẫu ngọn đèn có biết nhưng nó cũng chỉ là vật vô tri, vô giác nên chẳng thể nào an ủi, vỗ về người chinh phụ. Chính vì thế, hình ảnh này vừa có tác dụng làm cho hình ảnh thơ trở nên sinh động, gần gũi hơn, vừa góp phần khắc hoạ sâu sắc nỗi cô đơn cùng cực của người chinh phụ khi không nhận được hồi âm của người chồng đang chinh chiến phương xa. Câu 5. − Trong văn bản này, người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng: Buồn tủi, cô đơn, khắc khoải mong ngóng tin chồng, lo lắng cho an nguy của chồng nơi trận mạc. _ Từ câu chuyện của người chinh phụ, em càng thêm trân quý cuộc sống của những ngày hoà bình. Bởi nhờ có hoà bình, con người mới được hưởng trọn vẹn hạnh phúc gia đình. Vì vậy, chúng ta ngày hôm nay cần biết trân trọng và gìn giữ hoà bình.

Bài 2: Gọi quãng đường từ thành phố về quê là (km). Khi về quê: vận tốc 30km/h → thời gian đi là x/30 (giờ). Khi lên thành phố: vận tốc 25km/h → thời gian đi là x/25 (giờ). Theo đề bài, thời gian lên thành phố nhiều hơn thời gian về quê là 20 phút, tức là 1/3giờ (vì 20:60=1/3). Ta có phương trình:

X/25-x/30=1/3 Giải phương trình: 6x-5x/150=1/3 X=150*1/3

x = 50 Vậy quãng đường từ thành phố về quê là 50 km.