Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Quỳnh Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. 

Ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất - xưng "tôi".

Câu 2. 

Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là bức tranh vẽ một con trăn nuốt chửng một con voi.

Câu 3. 

Người lớn khuyên chú bé nên chú tâm vào những môn văn hóa như môn địa, môn sử, môn toán và môn ngữ pháp vì họ cho rằng những môn học này là những môn học quan trọng, sẽ giúp ích được cho chú bé trong tương lai. Điều này cũng cho thấy những người lớn trong văn bản trên có phần thực dụng vì họ chú trọng những yếu tố, lợi ích thực tế hơn là ước mơ hay những giá trị tinh thần của trẻ thơ.

Câu 4. 

– Những người lớn trong văn bản được miêu tả là những người vô cảm, thiếu tinh tế và thực dụng. 

+ Vô cảm, thiếu tinh tế: Trước trẻ thơ, lẽ ra họ cần có thái độ khích lệ, động viên nhưng họ liên tục dập tắt hi vọng và ước mơ họa sĩ của chú bé. 

+ Thực dụng: Vì chỉ quan tâm đến những gì có ích cho cuộc sống tương lai, chứ không hề nghĩ đến việc vun đắp, bồi dưỡng để ước mơ đứa trẻ được lớn lên và hiện thực hóa. 

=> Nhận xét: HS nêu nhận xét về những người lớn trong văn bản dựa trên những trải nghiệm cá nhân. Các em có thể nhận xét những người lớn trong văn bản là những người ích kỉ, thiếu sáng suốt,... nhưng cần đưa ra được lí giải hợp lí. 

Câu 5. 

– Dựa vào nội dung văn bản kết hợp cùng trải nghiệm cá nhân, HS rút ra bài học cho bản thân. 

– Một số bài học có thể được rút ra từ văn bản: 

+ Cần kiên định theo đuổi ước mơ, đam mê.

+ Cần khích lệ, động viên, trân trọng những ước mơ của con trẻ. 

+ Cần chú trọng những giá trị tinh thần hơn trong bối cảnh cuộc sống bộn bề ngày nay.


Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích bài thơ ở phần Đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ Là người cha yêu thương con sâu sắc, suốt đời suy nghĩ vì con: 

   ++ Vì muốn con được đặt chân vào giới quý tộc để con cái mình nhận được sự kính trọng trong xã hội, ông đã gả hai con cho những người quý tộc giàu có.

   ++ Dù nhận ra các con không yêu thương mình thật lòng nhưng vẫn cho các con thứ chúng muốn. 

   ++ Đến tận lúc chết vẫn lo cho con, vẫn muốn làm việc để kiếm tiền cho hai cô con gái.

+ Nhận xét:

   ++ Yêu thương con lầm lạc, mù quáng. 

   ++ Kết cục là phải ra đi trong sự thờ ơ, lạnh nhạt của hai cô con gái. 

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2.

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về sự xa cách giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện đại. 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: 

– Thực trạng: Ngày nay mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái ngày càng xa cách.

– Biểu hiện:

+ Cha mẹ, con cái ít chia sẻ, giao tiếp với nhau trong cuộc sống hằng ngày.

+ Con cái dành quá nhiều thời gian cho các thiết bị điện tử, mạng xã hội, ít tương tác với gia đình. 

+ ...

– Nguyên nhân:

+ Cha mẹ bận bịu với guồng quay công việc trong đời sống hối hả ngày nay.

+ Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng của các phương tiện truyền thông, sản phẩm công nghệ.

+ Sự khác biệt về quan điểm sống, lối sống giữa hai thế hệ.

+ Quan điểm giáo dục của bố mẹ chưa phù hợp khi áp đặt, thiếu tôn trọng ý kiến của con cái. 

– Hậu quả: 

+ Ảnh hưởng đến tâm lí con cái: Cảm giác cô đơn, thiếu thốn tình cảm, dễ bị tổn thương, có thể dẫn đến các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu.

+ Ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con cái: Thiếu sự định hướng, giáo dục từ cha mẹ, con cái dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tiêu cực từ xã hội.

+ Ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình: Mâu thuẫn, xung đột gia tăng, không khí gia đình căng thẳng, ngột ngạt.

+ Ảnh hưởng đến xã hội: Các vấn đề xã hội như bạo lực gia đình, tội phạm vị thành niên có thể xuất phát từ sự xa cách trong gia đình.

– Giải pháp:

+ Cha mẹ cần dành nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc, trò chuyện cùng con cái.

+ Con cái cũng cần chủ động giúp đỡ, bày tỏ tình cảm với cha mẹ.

+ Cha mẹ, con cái cần có sự tôn trọng nhau. 

+ Tăng cường những bữa ăn, hoạt động gia đình để tăng sự gắn kết giữa các thành viên.

+ Nhà trường, xã hội cần đẩy mạnh giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp cho các con; hỗ trợ cha mẹ trong việc giao tiếp, chia sẻ, định hướng cho các con. 

* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1. 

Ngôi kể: Ngôi thứ ba.

Câu 2. 

Đề tài: Tình phụ tử.

Câu3.

Lời nói của lão Goriot thể hiện những điều sau: 

+ Lão dặn dò Rastignac phải hiếu thảo với cha mẹ chàng vì lão hiểu được sự bất hạnh của người làm cha, làm mẹ khi không được con cái yêu thương, kề cận. 

+ Lời dặn dò thể hiện nỗi đau đớn, xót xa khi không được nhìn mặt các con trước phút lâm chung, đồng thời cho thấy sự tủi thân, nỗi buồn thảm của lão khi thiếu sự yêu thương, quan tâm của các con trong suốt mười năm ròng rã. 

=> Lời dặn dò cho thấy sự đáng thương của lão Goriot - một người cha yêu con sâu sắc nhưng nhận lại chỉ là sự đắng cay, lạnh lẽo. 

Câu 4. 

lão Goriot khát khao được gặp mặt các con trước phút lâm chung dù trước đó lão đã than trách, thậm chí là nguyền rủa những đứa con bất hiếu. 

– Lí do: Dù chua xót nhận ra sự thật rằng các con không hề yêu thương mình thật lòng, chúng chỉ yêu thương ông, tìm đến ông để bòn rút tiền của, đến khi ông không còn gì nữa, chúng bỏ mặc ông không màng sống chết, nhưng ông vẫn khát khao được gặp các con vì tình yêu thương, lòng bao dung của ông dành cho hai cô con gái rất rộng lớn. Đó chính là tình cảm đáng quý của người cha già này. Ông yêu con, sẵn sàng hi sinh vì con, bao dung với con cái mình mà không cầu các con hồi đáp lại những gì ông đã trao cho chúng. 

Câu5.

+ Lão khát khao, mong chờ các con tới gặp mặt lần cuối nhưng kết cục là ra đi khi chưa hoàn thành được tâm nguyện. 

+ Những giây phút cuối đời, người ở bên lão chỉ là chàng sinh viên Rastignac và Bianchon. 

=> Hoàn cảnh đáng thương, đầy xót xa.

Phương trình điện phân dung dịch NaCl: 

\(2 N a C l + 2 H_{2} O 2 N a O H + C l_{2} + H_{2}\)

Khối lượng NaOH thu được ứng với mỗi lít nước muối bão hòa ban đầu:

\(m_{N a O H} = \frac{300 - 220}{58 , 5} . 40.0 , 8 = 43 , 8 \left(\right. g \left.\right)\)

Để bảo vệ vỏ tàu biển khỏi bị ăn mòn có thể sử dụng một tấm kim loại kẽm gắn vào vỏ tàu biển vì kẽm hoạt động mạnh hơn sắt trong thép nên kẽm sẽ bị ăn mòn thay sắt. Ngoài ra có thể sơn lên vỏ tàu biển để hạn chế vỏ tàu bị ăn mòn.

1) Fe + CuSO4 → FeSO4 + Cu

(2) Fe + Fe2(SO4)3 → 3FeSO4

(3) Fe + 2AgNO3 → Fe(NO3)2 + 2Ag

(4) Fe + Pb(NO3)2 →  Fe(NO3)2 + Pb

Gang và thép đều là hợp kim của sắt, trong đó:

- Gang: 95% sắt, 2 - 5% carbon, còn lại là các nguyên tố khác.

- Thép: ít hơn 2% carbon và một số nguyên tố khác như chromium, manganese, silicon,...

Câu 1,

Bài thơ “Khán “Thiên gia thi” hữu cảm” của Hồ Chí Minh không chỉ là những dòng cảm nhận khi đọc thơ cổ mà còn là một tuyên ngôn nghệ thuật độc đáo. Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn theo thể thất ngôn tứ tuyệt, Bác đã vạch ra chức năng mới của thơ ca thời đại. Hai câu đầu, “Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ, / Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”, miêu tả đặc điểm thơ cổ thường thiên về tả cảnh đẹp, ca tụng thiên nhiên, trăng gió, mây núi. Tuy nhiên, ở hai câu sau, bằng nhãn quan của một chiến sĩ cách mạng, Bác chuyển sang khẳng định: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong”. Chữ “thiết” (thép) được coi là ẩn dụ cho ý chí chiến đấu, tinh thần cứng cỏi, trong khi “xung phong” thể hiện tư thế chủ động, người nghệ sĩ không đứng ngoài cuộc mà là chiến sĩ cầm bút, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bài thơ thể hiện quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh, thơ ca phải gắn liền với thực tại và sức mạnh chiến đấu.

Câu 2

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống là "hồn cốt" dân tộc, đặc biệt quan trọng với giới trẻ. Dù có xu hướng "sính ngoại", nhiều người trẻ vẫn đang sáng tạo, lan tỏa bản sắc thông qua công nghệ, nghệ thuật, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại để bảo tồn văn hóa Việt. Văn hóa truyền thống là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần (phong tục, lễ hội, ngôn ngữ, áo dài...) được cha ông đúc kết qua hàng nghìn năm. Đối với thế hệ trẻ, việc giữ gìn những giá trị này không chỉ là bảo vệ di sản mà còn là định hình danh tính, giúp tránh nguy cơ bị "hòa tan" giữa các nền văn hóa khác.  Thực tế hiện nay cho thấy hai mảng màu đối lập. Một bộ phận không nhỏ giới trẻ đang mải mê chạy theo các trào lưu nước ngoài, dửng dưng với các giá trị truyền thống, thậm chí làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Tuy nhiên, một tín hiệu tích cực là nhiều người trẻ năng động đã và đang nỗ lực đưa văn hóa truyền thống trở lại. Chúng ta thấy áo dài, cổ phục Việt được diện trong các dịp lễ, sự kiện; những dự án âm nhạc dân gian kết hợp hiện đại thu hút hàng triệu lượt xem; các dự án như "Việt Sử Kiêu Hùng" hay các kênh Tik Tok tìm hiểu di sản lan tỏa mạnh mẽ. Họ dùng công nghệ để “thổi hồn” vào những nét văn hóa cổ xưa, chứng minh rằng truyền thống không hề thức giữ gìn văn hóa bắt đầu từ những hành động nhỏ: trân trọng tiếng Việt, tìm hiểu lịch sử, tôn trọng phong tục, và lên án những hành vi làm mai một văn hóa dân tộc. Giới trẻ cần hiểu rằng, muốn hòa nhập mà không “hòa tan”, chúng ta phải giữ được “bản sắc” của mình.  Tóm lại, thế hệ trẻ là người nắm giữ chìa khóa tương lai của văn hóa dân tộc. Hãy yêu, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống bằng sự sáng tạo của tuổi trẻ, để bản sắc Việt Nam tỏa sáng và trường tồn theo thời gian.

Câu 1. 

Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Câu 2. 

Căn cứ vào chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất là chữ “thi” – luật bằng, suy ra bài thơ được triển khai theo luật bằng

Câu 3.

Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả chỉ ra những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên được đưa vào thơ cổ: Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong. Phép liệt kê được sử dụng ở đây có tác dụng làm rõ cho quan điểm Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ mà tác giả đưa ra trước đó. 

Câu 5:

Bài thơ có kết cấu chặt chẽ, vừa tương phản, đối lập, vừa hài hòa, thống nhất. Đặt thơ xưa với thơ nay trong sự đối lập, tác giả không nhằm hạ thấp thơ xưa, trái lại Người rất trân trọng, yêu thích thơ xưa, nhưng Người không đồng tình với quan điểm sáng tác đó. Nên Người đã nêu lên quan niệm nghệ thuật của mình về thơ nay – cần có “chất thép” ở trong thơ, để thơ ca trở thành một thứ vũ khí sắc bén, còn anh chị em sáng tác sẽ là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ. 

Khi đưa nam châm lại gần khung dây, từ thông qua khung dây tăng, dòng điện cảm ứng xuất hiện trong khung dây gây ra từ trường cảm ứng ngược chiều với từ trường ngoài (để chống lại sự tăng của từ thông qua khung dây) nên dòng điện cảm ứng chạy trên cạnh AB theo chiều từ B đến A (theo quy tắc nắm tay phải).