Hoàng Trần Thùy Trang
Giới thiệu về bản thân
a) Hiệu điện thế UMN là: UMN=AMN/q=(AM∞−AN∞)/q=(−q×Q/4πε0rM+q×Q/4πε0rN)/q →UMN=−Q/4πε0×1+Q/4πε0×2=−8πε0Q V
b) Công cần thực hiện là: AMN=AM∞−AN∞=−A∞M−(−A∞N)=−q×Q/4πε0rM−(−q×Q/4πε0rN) AMN=−q×Q/4πε0×1+q×Q/4πε0×2=(1,6×10^−29)/πε0 J
Công của lực điện trường là A = qEd = − eEd = ΔW Công của lực điện trường bằng độ biến thiên động năng. Theo định lí biến thiên động năng, ta có: A= 0 − 1/2×mv^2 = − eEd → d = mv^2 / 2eE → d=9,1×10^−31×(3×10^5)^2 / 2×1,6×10^−19×1000 = 2,6×10^-4m = 0,26 mm
CH3COOH+(CH3)2CHCH2CH2OH⇌( H2SO4đ,t° )CH3COOCH2CH2CH(CH3)2+H2O
Số mol isoamylic alcohol: n(CH3)2CHCH2CH2OH = 2,2/88 = 0,25 mol Số mol acetic acid: nCH3COOH = 2,2/60 = 0,037 mol Vì phản ứng xảy ra theo tỉ lệ 1 : 1, nisoamylic acohol < nacetic acid nên ta tính khối lượng ester tạo ra theo số mol của isoamylic acid. Theo phương trình phản ứng: nester = nalcohol = 0,025 nester = nalcohol = 0,025 mol Hiệu suất phản ứng là 70% nên khối lượng ester thu được thực tế: mester = nester .Mester = 0,025.130.70% = 2,275 gam.
2 đơn vị uống chuẩn ứng với số gam cồn nguyên chất là 2.10 = 20 gam. Thể tích ethanol: VC2H5OH = m/D = 20/0,8 = 25 mL Nếu dùng loại rượu có độ cồn 36% thì thể tích tương ứng của loại này để chứa 2 đơn vị cồn: Vrượu = 2500/36 = 69,4 mL Vậy thể tích rượu 36% tương ứng với 2 đơn vị cồn là 69,4 mL.
* CH3CH2CH2CH2CHO →(NaBH4) CH3CH2CH2CH2CH2OH
* CH3CH2CH(CH3)CHO → (NaBH4) CH3CH2CH(CH3)CH2OH
* CH3CH(CH3)CH2CHO →(NaBH4) CH3CH(CH3)CH2CH2OH
* CH3C(CH3)2CHO → (NaBH4) CH3C(CH3)2CH2OH
Câu 1:
Người đọc đến với Thạch Lam, họ quên và hầu như không cần thiết xem ông là nhà văn lãng mạn hay hiện thực mà điều hấp dẫn đối với họ là toàn bộ bức tranh nhân gian của ông với sự hiện diện của đủ mọi hạng người, đặc biệt là những con người nghèo khổ. Với ý nghĩa ấy, chúng tôi chỉ xin nêu ra một đặc điểm nổi bật trong thi pháp truyện ngắn của Thạch Lam. Đó là đặc điểm không gian nghệ thuật - một mặt quan trọng để nhà văn thể hiện tư tưởng và quan niệm nghệ thuật về con người. Có thể thấy hầu hết truyện ngắn của Thạch Lam đều sử dụng không gian hiện thực hằng ngày làm môi trường cho nhân vật hoạt động. Nhưng không gian hiện thực ở đây được bó hẹp lại trong không gian đời tư, không gian cá nhân chứ không phải trong không gian xã hội rộng lớn, nên không gian càng dồn nén, thu nhỏ, đông lại, càng hiu hắt hơn. Chính không gian hẹp đó, nhân vật bộc lộ bản chất, hành vi, suy nghĩ của mình một cách cụ thể, chân thật nhất-và khi họ thấy bất lực trước hoàn cảnh thì lập tức ngôn ngữ độc thoại, ngôn ngữ giấc mơ hiện ra, khi ấy không gian hồi tưởng xuất hiện. Không gian hẹp mà Thạch Lam quan tâm miêu tả giúp cho nhân vật tự vấn, tự ý thức để đối chiếu, so sánh niềm vui, nỗi buồn của mình trong từng thời gian một cách cụ thể. Dung (truyện ngắn “Hai lần chết”) hiểu rõ nỗi bất hạnh của mình, cứ sau mỗi lần vùng vẫy, ước mơ thì lại bị nhấn chìm xuống đáy, nhưng khổ nỗi, không thể chết được, dù toại nguyện mà lại cứ phải sống trong buồn đau, trói buộc. Bi kịch của Dung trong truyện ngắn "Hai lần chết" càng bi kịch hơn dẫu nàng đã quyết định kết liễu cuộc đời để được giải thoát. Nhưng có được đâu, nước mắt tủi buồn lăn trên má khi “Dung ngậm ngùi nghĩ đến cái chết của mình. Lần này, về nhà chồng, mới hẳn là chết đuối, chết không bấu víu vào đâu được”. Thạch Lam là nhà văn nhân đạo chủ nghĩa. Ông không thể không an ủi và mong muốn con người được sung sướng và hạnh phúc. Lòng nhân ái ấy bàng bạc trong tác phẩm của ông, hé ra một chút ánh sáng và hy vọng cho con người, dù mong manh. Đó là điều mà Thạch Lam hằng tâm niệm: “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có thể vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.
Câu 2:
Trong xã hội hiện đại, việc áp đặt con cái trong hôn nhân bởi cha mẹ vẫn còn là một vấn đề nhức nhối. Nhiều bậc phụ huynh vẫn còn quan niệm rằng, họ có quyền quyết định tương lai của con cái mình, đặc biệt là trong vấn đề hôn nhân. Tuy nhiên, liệu việc áp đặt này có thực sự mang lại hạnh phúc cho con cái hay không? Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng hôn nhân là một quyết định quan trọng trong cuộc đời mỗi người. Đó không chỉ là việc gắn kết hai người mà còn liên quan đến cả gia đình và tương lai sau này. Vì vậy, quyết định này nên được dựa trên sự tự nguyện và tình yêu giữa hai người, chứ không phải là áp đặt từ bên ngoài. Tuy nhiên, nhiều bậc phụ huynh vẫn còn quan niệm rằng, con cái cần phải nghe theo ý kiến của mình trong vấn đề hôn nhân. Họ cho rằng, việc chọn người yêu hay lấy chồng/vợ là một việc lớn trong đời, và con cái không đủ kinh nghiệm để tự quyết định. Họ muốn con cái mình lấy người có điều kiện tốt, có địa vị xã hội cao, hoặc có gia thế tốt để đảm bảo cuộc sống sau này của con cái. Nhưng liệu việc áp đặt này có thực sự mang lại hạnh phúc cho con cái? Câu trả lời là không. Khi con cái bị áp đặt trong hôn nhân, họ sẽ cảm thấy không có quyền tự quyết định cuộc đời mình. Họ sẽ cảm thấy bị gò bó, bị ép buộc vào một cuộc sống mà họ không mong muốn. Điều này sẽ dẫn đến sự bất hạnh và mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân. Hơn nữa, việc áp đặt trong hôn nhân còn có thể dẫn đến sự tan vỡ của hôn nhân. Khi hai người không yêu nhau thực sự, không có sự đồng cảm và hiểu biết về nhau, cuộc sống hôn nhân sẽ trở nên khó khăn và áp lực. Điều này sẽ ảnh hưởng đến cả hai người và cả gia đình. Vậy, làm thế nào để giải quyết vấn đề này? Trước hết, cha mẹ cần thay đổi quan niệm về hôn nhân và quyền tự quyết của con cái. Cha mẹ cần hiểu rằng, con cái mình đã trưởng thành và có quyền tự quyết định cuộc đời mình. Cha mẹ nên đóng vai trò là người tư vấn, người bạn đồng hành cùng con cái, chứ không phải là người quyết định. Thứ hai, con cái cần có sự tự tin và độc lập trong việc quyết định cuộc đời mình. Con cái cần hiểu rằng, hôn nhân là một quyết định quan trọng và cần được dựa trên sự tự nguyện và tình yêu. Con cái cần có sự can đảm để nói không với việc áp đặt và quyết định cuộc đời mình.
Cuối cùng, xã hội cần có sự thay đổi trong quan niệm về hôn nhân và quyền tự quyết của con người. Xã hội cần chấp nhận và tôn trọng quyết định của mỗi người về hôn nhân và cuộc sống. Xã hội cần tạo điều kiện cho con người có thể tự quyết định cuộc đời mình và sống cuộc sống hạnh phúc. Tóm lại, việc áp đặt con cái trong hôn nhân bởi cha mẹ là một vấn đề cần được thay đổi. Cha mẹ cần tôn trọng quyền tự quyết của con cái và đóng vai trò là người tư vấn, người bạn đồng hành cùng con cái. Con cái cần có sự tự tin và độc lập trong việc quyết định cuộc đời mình. Xã hội cần chấp nhận và tôn trọng quyết định của mỗi người về hôn nhân và cuộc sống. Chỉ khi đó, con người mới có thể sống cuộc sống hạnh phúc và thực sự.
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn.
Câu 2:
Đề tài của văn bản là số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Tác phẩm tập trung phản ánh cảnh đời khổ cực, tủi nhục của nhân vật Dung, từ khi sống tại nhà cha mẹ cho đến khi kết hôn và chịu cảnh áp bức từ nhà chồng.
Câu 3: Nhận xét về sự kết nối giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật trong văn bản. - Văn bản sử dụng cách kể chuyện kết hợp giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật, giúp làm nổi bật những cảm xúc và hoàn cảnh của nhân vật. - Người kể chuyện sử dụng ngôi thứ 3 - Lời nhân vật thể hiện nội tâm sâu sắc và nỗi tuyệt vọng của Dung, đặc biệt qua những phân đoạn độc thoại nội tâm. Sự kết nối này làm cho câu chuyện trở nên sinh động, gần gũi và đi sâu vào lòng người.
Câu 4: Đoạn trích cho thấy: - Nỗi đau đớn tột cùng và sự bế tắc của Dung: Trước dòng đời chảy trôi vô tận, Dung cảm nhận rằng mình không còn lối thoát. Hình bóng dòng sông gợi lên ý nghĩ về cái chết như một cách giải thoát khỏi cuộc đời đau khổ mà cô phải chịu. - Sự tuyệt vọng lớn lao: Trở về nhà chồng, Dung nhận ra rằng cuộc đời cô không khác gì "chết đuối giữa dòng sông", không còn một hi vọng hay bàn tay nào cứu vớt cô. Đây là ý nghĩa tượng trưng của dòng sông và cái chết.
Câu 5: Tác giả gửi gắm: - Tình thương cảm sâu sắc đối với những thân phận phụ nữ nhỏ bé, bất hạnh, như nhân vật Dung, trong xã hội phong kiến khắc nghiệt. - Lời tố cáo xã hội phong kiến đầy bất công, coi rẻ thân phận phụ nữ, khiến họ không có quyền tự quyết cuộc đời mà chỉ chịu đau khổ cả về tinh thần lẫn thể xác. - Đồng thời, tác phẩm khơi gợi trong lòng người đọc tình yêu thương, sự thấu hiểu và khát vọng về một xã hội bình đẳng và nhân đạo hơn.
Câu 1: Bài làm
Cuộc sống của mỗi người không phải lúc nào cũng bước đi trên một con đường bằng phẳng. Có đôi khi, cuộc đời buộc chúng ta phải đối mặt với nghịch cảnh. Con người cần giống như loài hoa dại, có được nghị lực để vượt qua nghịch cảnh trong cuộc sống. Trong xã hội hiện đại, có rất nhiều tấm gương về nghị lực đáng để mỗi chúng ta noi theo . Câu chuyện về thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký có lẽ không còn xa lạ gì với mỗi người. Trong những năm tháng đầu đời Nguyễn Ngọc Ký là một đứa trẻ khỏe mạnh. Thế nhưng khi lên bốn tuổi, một cơn bạo bệnh bất ngờ ập đến khiến ông bị liệt cả hai tay mãi mãi không cầm được bút nữa. Công việc học hành có thể chấm dứt vĩnh viễn khiến ông hết sức đau buồn. Thế nhưng nhận ra tầm quan trọng của học tập để thay đổi cuộc sống. Nguyễn Ngọc Ký đã quyết tâm rèn luyện để viết chữ bằng bàn chân của mình. Và sau này, còn trở thành một người thầy giáo mẫu mực. Nguyễn Ngọc Ký đã tâm sự rằng “ Viết bằng chân là một chuyện rất khó khăn, vất vả nhiều khi tức tưởi vì không cầm vững được cây viết đã muốn buông xuôi tất cả. Dần dần bình tâm lại đã viết được chữ O, Chữ A và sau đó còn vẽ được thước, xoay được compa, làm được lồng chim và những thứ đồ chơi để chơi ”. Mỗi người hãy luôn cố gắng sống tốt với tinh thần lạc quan, sẵn sàng đương đầu với thử thách không ngại khó khăn.
Câu 2: Bài làm
Bài thơ "Những dòng sông quê hương" của Bùi Minh Trí là một khúc ca trữ tình sâu lắng, thể hiện tình yêu quê hương đất nước tha thiết qua hình ảnh những dòng sông. Bài thơ không chỉ gây ấn tượng bởi nội dung giàu cảm xúc mà còn bởi những nét đặc sắc về nghệ thuật. Trước hết, tác giả đã sử dụng hình ảnh "những dòng sông quê hương" như một biểu tượng nghệ thuật độc đáo. Những dòng sông không chỉ là những thực thể địa lý mà còn là những chứng nhân lịch sử, mang trong mình những giá trị văn hóa và tinh thần của dân tộc. Hình ảnh dòng sông "muôn đời cuộn chảy" gợi lên sự trường tồn, vĩnh cửu của quê hương đất nước.
Bên cạnh đó, tác giả đã khéo léo sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ để tăng tính biểu cảm cho bài thơ. Dòng sông "mang nguồn sống phù sa đất bãi" là một ẩn dụ về sự nuôi dưỡng, bồi đắp của quê hương đối với con người. Hình ảnh "lòng sông mới hiểu nước mắt, mồ hôi, máu thấm ruộng đồng" là một sự nhân hóa, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của dòng sông với những nỗi đau và mất mát của dân tộc. Điệp ngữ "những dòng sông" được lặp lại nhiều lần, nhấn mạnh vai trò quan trọng của dòng sông trong đời sống của người dân.
Không chỉ vậy, bài thơ còn có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trữ tình và yếu tố lịch sử. Những câu thơ như "tiếng vọng ngàn xưa khao khát chờ mong..." hay "tiếng đoàn quân rầm rập trở về" đã tái hiện lại những trang sử hào hùng của dân tộc, khơi dậy lòng tự hào và tình yêu quê hương trong lòng người đọc.
Ngoài ra, bài thơ còn có nhạc điệu du dương, trầm lắng, phù hợp với cảm xúc hoài niệm và suy tư của tác giả. Nhịp điệu của bài thơ như một dòng chảy nhẹ nhàng, êm đềm, đưa người đọc vào một không gian trữ tình sâu lắng. Tóm lại, bài thơ "Những dòng sông quê hương" của Bùi Minh Trí là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước sâu sắc và lòng tự hào dân tộc của tác giả. Những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ đã góp phần tạo nên sức lay động mạnh mẽ trong lòng người đọc.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên là nghị luận.
Câu 2: Luận đề của văn bản là: Nghịch cảnh có thể giúp con người thành công.
Câu 3:
Để làm sáng tỏ cho ý kiến: “nghịch cảnh thường giữ một chức vụ quan trọng trong sự thành công”, tác giả đã sử dụng những bằng chứng sau:
- Những người nổi tiếng như Voltaire, Marcel Proust, Ben Fortson, Milton, Beethoven, Charles Darwin, Hellen Keller, J.J. Rousseau, và nhiều nhà doanh nghiệp thành công khác.
- Những hoàn cảnh khó khăn như bệnh tật, tai nạn, mù lòa, điếc, câm, nghèo túng, và thậm chí là tù đày. * Nhận xét:
- Những bằng chứng này rất đa dạng, phong phú, và có sức thuyết phục cao. Tác giả đã khéo léo sử dụng những câu chuyện về những người nổi tiếng để chứng minh cho luận điểm của mình.
- Việc đưa ra nhiều ví dụ từ nhiều lĩnh vực cho thấy tính phổ quát của vấn đề.
Câu 4:
* Mục đích của văn bản là:
- Khẳng định vai trò của nghịch cảnh trong việc giúp con người thành công.
- Truyền cảm hứng và động lực cho người đọc, đặc biệt là những người đang gặp khó khăn.
* Nội dung của văn bản là:
- Phân tích và chứng minh rằng nghịch cảnh không phải là rào cản, mà là cơ hội để con người phát triển và thành công.
- Đưa ra những ví dụ minh họa về những người đã vượt qua nghịch cảnh để đạt được thành công.
- Khuyến khích người đọc có thái độ tích cực trước khó khăn.
Câu 5: Nhận xét cách lập luận của tác giả trong văn bản. - Cách lập luận của tác giả rất chặt chẽ, logic và thuyết phục.
- Tác giả đưa ra luận điểm rõ ràng, sau đó sử dụng những bằng chứng cụ thể để chứng minh.
- Tác giả sử dụng nhiều phép tu từ như so sánh, tương phản, và liệt kê để tăng tính sinh động và hấp dẫn cho văn bản.
- Sử dụng những câu nói của các nhà danh nhân, làm tăng thêm tính thuyết phục
Để đứng vững và phát triển xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước, bên cạnh việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mỗi một quốc gia đều phải coi trọng việc gìn giữ bản sắc văn hóa. Vai trò, ý nghĩa to lớn của bản sắc văn hóa đối với sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của mỗi một dân tộc đã đặt ra vấn đề về vai trò của giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước đối với việc gìn giữ bản sắc văn hóa. Như chúng ta đã biết, bản sắc văn hóa là điều cốt lõi mang tính đặc trưng, màu sắc riêng của mỗi một quốc gia, dân tộc; được hình thành và được vun đắp song song với quá trình dựng nước và giữ nước theo cả chiều đồng đại và lịch đại. Đó có thể là những giá trị về vật chất, cũng có thể là những giá trị văn hóa về tinh thần như phong tục tập quán, truyền thống văn hóa,.... Đối với dân tộc Việt Nam, những giá trị đó luôn bền vững, trường tồn theo thời gian như nền văn minh lúa nước, trống đồng Đông Sơn, tinh thần yêu nước mạnh mẽ, bền bỉ như sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, tinh thần "tương thân tương ái" giàu giá trị nhân văn, hay truyền thống đạo lí "uống nước nhớ nguồn", "ân nghĩa thủy chung",.... Bản sắc văn hóa có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với mỗi một quốc gia, dân tộc. Trước hết, bản sắc chính là cái gốc, cái hồn cốt lõi khẳng định sự tồn tại của mỗi một quốc gia, dân tộc. Điều này đã được Nguyễn Trãi - tác giả của áng thiên cổ hùng văn "Bình Ngô đại cáo" sớm khẳng định trong giai đoạn lịch sử trung đại. Trong tác phẩm của mình, để nêu ra một khái niệm hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc, Nguyễn Trãi đã nêu ra năm yếu tố, trong đó có hai yếu tố về nền văn hiến và phong tục tập quán, thể hiện rõ sự ý thức sâu sắc về vai trò của bản sắc văn hóa. Không chỉ dừng lại ở đó, bản sắc còn là cái nôi nuôi dưỡng ý thức về quyền độc lập và ý thức gìn giữ non sông, đất nước đối với mỗi một con người. Trong vô vàn những quốc gia tồn tại bình đẳng với bức tranh đa dạng và muôn màu sắc, bản sắc chính là một trong những yếu tố làm nên đặc trưng riêng, không thể hòa lẫn, hợp nhất giữa các đất nước. Trong bối cảnh hòa nhập vào nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc càng được khẳng định hơn nữa và gắn bó mật thiết với trách nhiệm của thế hệ trẻ. Là những chủ nhân tương lai của đất nước, thế hệ thanh thiếu niên học sinh Việt Nam đã và đang phát huy bản sắc dân tộc bằng những việc làm tích cực. Mặc dù có sự du nhập và tác động từ văn hóa nước ngoài nhưng không ít bạn trẻ vẫn tìm về với những giá trị truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc như những trò chơi dân gian, những loại hình văn hóa dân gian như ca trù, nhã nhạc cung đình,..., đặc biệt là không ngần ngại quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra thế giới. Trong phần thi về Trang phục dân tộc, Hoa hậu H'Hen Niê đã tỏa sáng với bộ quốc phục được lấy cảm hứng từ những chiếc bánh mì, mang theo niềm tự hào về thành tựu nông nghiệp của nước ta trên đấu trường nhan sắc quốc tế.
Như vậy, thế hệ trẻ là tầng lớp có vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Là những học sinh được sinh ra và lớn lên trong cái nôi của bản sắc dân tộc, chúng ta cần nỗ lực, cố gắng trong học tập, lao động để trở thành những công dân tốt, góp phần xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước.