Nguyễn Minh Thư
Giới thiệu về bản thân
a) Cường độ dòng điện: I=qt=Net=108.1,6.10−191=0,16A
b) Độ lớn của lực từ F=BLIsinα=5.10−3.0,5.0,16.sin90°=4.10−4N
Câu 1. Nghị luận văn học (Phân tích đoạn trích "Văn tế thập loại chúng sinh")
Đoạn trích trong tác phẩm "Văn tế thập loại chúng sinh" là minh chứng cho trái tim nhân đạo bao la của đại thi hào Nguyễn Du. Về nội dung, đoạn trích đã vẽ nên một bức tranh thê lương về những kiếp người nhỏ bé, bị gạt ra lề xã hội: từ người lính bỏ mình nơi chiến trận, người kỹ nữ cô độc khi về già đến kẻ hành khất chết vùi nơi đường quan. Nguyễn Du không chỉ xót thương cho cái chết mà còn thấu hiểu nỗi khổ đau, sự phiền não khi họ còn sống. Câu thơ "Đau đớn thay phận đàn bà" như một tiếng nấc nghẹn trước định mệnh nghiệt ngã của con người trong xã hội phong cũ. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng thành công thể thơ song thất lục bát với nhịp điệu trầm bổng, oán thán như tiếng khóc văng vẳng. Việc sử dụng các từ láy gợi hình, gợi âm như "lập lòe", "văng vẳng" cùng những hình ảnh mang tính ước lệ (ngọn lửa ma trơi, hớp cháo lá đa) đã tạo nên một không khí tâm linh huyền bí nhưng đầy chân thực. Qua đó, tác giả không chỉ thể hiện sự đồng cảm sâu sắc mà còn khẳng định giá trị nhân bản: mỗi kiếp người, dù thấp kém nhất, đều xứng đáng được nhận lòng trắc ẩn.
Câu 2. Nghị luận xã hội: Gen Z và những định kiến tiêu cực
Trong dòng chảy của thời đại, mỗi thế hệ mới xuất hiện đều khó tránh khỏi những cái nhìn khắt khe từ những người đi trước. Hiện nay, "Gen Z" – thế hệ sinh ra trong kỷ nguyên số – đang trở thành tâm điểm của nhiều định kiến tiêu cực về lối sống và cách làm việc, như bị coi là "thế hệ bông tuyết" dễ vỡ, thiếu kiên nhẫn hay quá tự cao. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận từ góc độ của người trẻ, ta sẽ thấy một thực tế khác biệt phía sau những nhãn dán đó.
Định kiến đầu tiên thường thấy là sự quy chụp Gen Z "lười biếng" hoặc "hay nhảy việc". Thực tế, người trẻ ngày nay không từ bỏ sự nỗ lực, họ chỉ từ bỏ những giá trị cũ kỹ không còn phù hợp. Thay vì làm việc vì sự ổn định đơn thuần, họ tìm kiếm sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc (work-life balance), đòi hỏi một môi trường tôn trọng sự sáng tạo và giá trị cá nhân. Việc họ sẵn sàng rời bỏ một vị trí không tương xứng chính là biểu hiện của lòng tự trọng và sự dũng cảm tìm kiếm ý nghĩa thực sự của lao động, chứ không phải sự hời hợt.
Bên cạnh đó, việc bị gắn mác "thế hệ ảo" do nghiện mạng xã hội cũng là một góc nhìn phiến diện. Gen Z tận dụng công nghệ không chỉ để giải trí mà còn để học tập, kết nối toàn cầu và lên tiếng về các vấn đề xã hội như biến đổi khí hậu hay bình đẳng giới. Sự "nhạy cảm" bị coi là yếu đuối thực chất là sự thức tỉnh về sức khỏe tâm thần – một khía cạnh mà các thế hệ trước thường bỏ qua. Họ dám đối diện với tổn thương để chữa lành, thay vì nén nhịn và chịu đựng.
Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn thừa nhận rằng một bộ phận người trẻ vẫn còn lối sống thực dụng hoặc thiếu kỹ năng ứng xử thực tế. Nhưng đó chỉ là những hiện tượng đơn lẻ, không thể đại diện cho cả một thế hệ. Định kiến giống như một bức tường ngăn cách sự thấu hiểu. Khi chúng ta chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài mà quy chụp, ta sẽ bỏ lỡ cơ hội thấy được một Gen Z năng động, đa nhiệm và đầy khát vọng cống hiến.
Tóm lại, thay vì phán xét bằng những định kiến cũ kỹ, xã hội cần sự đối thoại và bao dung. Thế hệ trẻ không cần được ca tụng, nhưng họ cần được nhìn nhận một cách công bằng. Gen Z không phải là những "đứa trẻ hư", họ chỉ đang viết tiếp lịch sử theo cách của riêng mình – bằng một ngôn ngữ mới, trong một thời đại mới.
Câu 1. Phương thức biểu đạt
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích là: Biểu cảm (phương thức chính), kết hợp với Tự sự và Miêu tả.
Câu 2. Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích
Đoạn trích liệt kê những số phận bất hạnh, đáng thương trong xã hội cũ, bao gồm:
• Người lính: Phải bỏ nhà đi lính, chịu cảnh gian nan, "mạng người như rác" nơi chiến trận.
• Người kỹ nữ (người buôn nguyệt bán hoa): Những người phụ nữ lỡ làng, liều bỏ tuổi thanh xuân, về già cô độc, không nơi nương tựa.
• Người hành khất (người ăn xin): Sống cảnh "nằm cầu gối đất", lang thang ngược xuôi, chết vùi nơi đầu đường xó chợ.
Câu 3. Hiệu quả của việc sử dụng từ láy
Hai từ láy "lập lòe" và "văng vẳng" mang lại hiệu quả nghệ thuật cao:
• "Lập lòe": Gợi tả hình ảnh ánh sáng yếu ớt, lúc ẩn lúc hiện của ngọn lửa ma trơi. Nó tạo nên một không gian âm u, rùng rợn và lạnh lẽo của nghĩa địa, chiến trường.
• "Văng vẳng": Gợi âm thanh mơ hồ, từ xa đưa lại nhưng dai dẳng, không dứt. Nó diễn tả tiếng khóc than của những oan hồn, sự ai oán khôn nguôi.
• Tác dụng chung: Tăng tính hình tượng và nhạc điệu cho câu thơ, khắc sâu nỗi đau đớn, thê lương của những kiếp người chết oan uổng, đồng thời khơi dậy lòng trắc ẩn sâu sắc nơi người đọc.
Câu 4. Chủ đề và cảm hứng chủ đạo
• Chủ đề: Đoạn trích thể hiện cái nhìn đau xót trước những kiếp người nhỏ bé, khốn khổ và có cái chết bi thảm trong xã hội cũ (như người lính, người kỹ nữ, người ăn mày).
• Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo sâu sắc. Đó là lòng thương cảm, sự xót xa tột độ của Nguyễn Du trước những nỗi khổ đau của con người và tiếng lòng mong muốn sẻ chia, an ủi những linh hồn bơ vơ, bất hạnh.
Câu 5. Suy nghĩ về truyền thống nhân đạo của dân tộc
Từ cảm hứng nhân đạo trong đoạn trích của Nguyễn Du, ta thấy truyền thống nhân đạo là dòng chảy xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là tinh thần "thương người như thể thương thân", là sự thấu cảm trước những mảnh đời bất hạnh, không phân biệt địa vị hay hoàn cảnh. Trong quá khứ, tinh thần ấy giúp cha ông ta đoàn kết chống lại kẻ thù và thiên tai; ngày nay, nó tiếp tục được nối dài qua những hoạt động thiện nguyện, sự sẻ chia trong hoạn nạn và lòng vị tha giữa người với người. Truyền thống này không chỉ là đạo đức mà còn là sức mạnh tinh thần cốt lõi, tạo nên bản sắc văn hóa tốt đẹp của con người Việt Nam.
Khi đun nước giếng khoan hoặc ở vùng có nước cứng tạm thời, muối Ca(HCO3)2 bị phân hủy tạo thành CaCO3 không tan, kết tủa thành lớp cặn trắng bám ở đáy ấm. Khi cho giấm ăn (chứa acetic acid – CH3COOH) vào, acid sẽ phản ứng với CaCO3 tạo thành muối tan, khí CO2 và nước. Nhờ đó lớp cặn dần tan đi.
CaCO3 + 2CH3COOH → (CH3COO)2Ca + CO2↑ + H2O
Theo đề bài, ta có sơ đồ:
\(\left(\left(\right. C\right)_{6} H_{10} O_{5} \left.\right)_{n} + n H_{2} O n C_{6} H_{12} O_{6} 2 n C_{2} H_{5} O H + 2 n \left(C O\right)_{2}\)
Khối lượng tinh bột trong 1 tấn sắn khô:
\(m_{\left(\right. C_{6} H_{10} O_{5} \left.\right)_{n}} = 1000.42 \% = 420\) kg
⇒ \(n_{\left(\right. C_{6} H_{10} O_{5} \left.\right)_{n}} = \frac{420}{162 n} = \frac{70}{27 n}\) kmol
⇒ \(n_{C_{2} H_{5} O H} = 2 n . \frac{70}{27 n} = \frac{140}{27}\) kmol
⇒ \(m_{C_{2} H_{5} O H} = \frac{140}{27} . 46.40 \% = 95 , 41\) kg
Thể tích ethanol nguyên chất thu được:
\(V = \frac{m}{D} = \frac{95 , 41.1 0^{3}}{0 , 8} = 11926 , 5\) mL = 11,93 L
Thể tích cồn 70o thu được:
\(V = 11 , 93. \frac{100}{70} = 17 , 043\) L.
(1)CH2=CH2+HCl→CH3CH2Cl
\(\left(\right. 2 \left.\right) \left(C H\right)_{3} \left(C H\right)_{2} C l + N a O H \left(C H\right)_{3} \left(C H\right)_{2} O H + N a C l\)
\(\left(\right. 3 \left.\right) \left(C H\right)_{3} \left(C H\right)_{2} O H + C u O \left(C H\right)_{3} C H O + C u + H_{2} O\)
\(\left(\right. 4 \left.\right) \left(C H\right)_{3} C H O + \left(B r\right)_{2} + H_{2} O \rightarrow \left(C H\right)_{3} C O O H + 2 H B r\)
- Đây là phương pháp thụ phấn nhân tạo: Con người chủ động chuyển phấn hoa từ hoa đực (có nhị) sang hoa cái (có nhụy).
- Ý nghĩa của phương pháp: Giúp tăng hiệu quả thụ phấn, tăng khả năng đậu quả, từ đó nâng cao năng suất cây trồng.
- Các dấu hiệu đặc trưng của sinh sản ở sinh vật:
+ Hình thành cơ thể mới.
+ Truyền đạt vật chất di truyền.
+ Điều hòa sinh sản.
- Phân biệt sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính:
| Sinh sản vô tính | Sinh sản hữu tính |
Sự hình thành giao tử | Không có | Có |
Sự thụ tinh | Không có | Có |
Đặc điểm di truyền của cá thể con | Giống cá thể mẹ | Khác cá thể bố mẹ |
Cơ sở di truyền | Nguyên phân | Giảm phân |
Ví dụ ở sinh vật | Thủy tức nảy chồi | Sinh sản ở người |
Động vật có hai hình thức phát triển chính:
- Phát triển không qua biến thái: Là quá trình phát triển mà con non sinh ra có hình thái và cấu tạo tương tự như con trưởng thành. Ví dụ: Người, chim, bò, lợn,...
- Phát triển qua biến thái: Là quá trình phát triển mà con non (ấu trùng) có hình thái và cấu tạo khác với con trưởng thành, phải trải qua quá trình biến đổi mới thành con trưởng thành.
Phát triển qua biến thái được chia thành hai loại:
+ Phát triển qua biến thái hoàn toàn:
- Là quá trình phát triển mà ấu trùng có hình thái và cấu tạo rất khác với con trưởng thành, phải trải qua giai đoạn trung gian (nhộng hoặc kén) trước khi biến đổi thành con trưởng thành.
- Ví dụ: Bướm, ong, ruồi, muỗi,...
+ Phát triển qua biến thái không hoàn toàn:
- Là quá trình phát triển mà ấu trùng có hình thái và cấu tạo gần giống với con trưởng thành, trải qua nhiều lần lột xác để hoàn thiện hình thái và cấu tạo.
- Ví dụ: Châu chấu, cào cào, gián,...
a/ Phương trình phản ứng:
CH3COOH + CH3Ch(CH3)CH2CH2OH -> CH3COOCH2CH2CH(CH3)CH3 + H2O
b/ khối lượng của isoamyl aceate : 0,025 x 130 = 3,25 gam
vì hiệu suất phản ứng là 70% khối lượng thu được là :
m = 3,25 x 70/100 = 2,275 gam