Nguyễn Mạnh Hải
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. (2 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật "tôi" trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Lúc nhỏ: Nhân vật "tôi" vì hứng thú với một câu chuyện về giới động vật mà vẽ bức tranh con trăn nuốt chửng con thú. Từ đó, nhân vật "tôi" liên tục vẽ tranh và hỏi cảm nhận của người lớn về bức tranh ấy, thế nhưng chú bé năm ấy phải đối diện với hiện thực là:
++ Người lớn không hiểu được bức vẽ của chú.
++ Người lớn không khích lệ cậu bé, cũng như không thể hiện điều mà chú bé mong đợi.
++ Người lớn khuyên chú bé hãy chú tâm học các môn văn hóa lúc bấy giờ mà không nghĩ đến cảm nhận của chú.
=> Chính sự vô cảm, thiếu tinh tế này của những người lớn mà nhân vật "tôi" thất vọng, đành từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ, chấp nhận sống như những gì mà người lớn mong muốn.
+ Khi lớn lên, nhân vật "tôi" trở thành phi công, đi nhiều nơi, gặp nhiều người nhưng những con người ấy vẫn mang những "bản chất của người lớn" năm nào. Dường như người lớn đều thực dụng, ít tưởng tượng, mộng mơ và vô cảm, nhạt nhẽo. Dẫu vậy, nhân vật "tôi" vẫn ôm hi vọng gặp được người giống mình. Hễ gặp ai sáng sủa, nhân vật này lại mang bức tranh cũ ra để hỏi cảm nhận của người đó. Nhưng khi nhận được câu trả lời chả khác bao với thời thơ ấu, nhân vật "tôi" lại buộc lòng hạ thấp chính mình, quay trở về làm một người lớn chính hiệu: Phải sống một cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt, phải trò chuyện với những người lớn thực dụng, thờ ơ về những chủ đề tầm thường trong cuộc sống (bài bạc, đấu bóng, chính trị, cà vạt).
=> HS dựa trên những cảm nhận cá nhân để rút ra nhận xét về nhân vật này.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". (Giacomo Leopardi)
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Giải thích ý kiến: Ý kiến của Giacomo Leopardi gồm 2 vế:
+ Vế 1: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì": Giải thích ý nghĩa của cụm "chẳng có gì" (tức là thế giới đơn giản, ít vật chất, giàu trí tưởng tượng). Từ đó, có thể thấy, trẻ em có khả năng tìm thấy niềm vui, sự kỳ diệu từ những điều nhỏ nhặt, giản đơn, bình dị nhất trong cuộc sống.
+ Vế 2: "Người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả": Giải thích ý nghĩa của từ "tất cả" (đó là một cuộc sống đầy đủ vật chất). Từ đó, ta có thể hiểu rằng dù người lớn có sống trong một thế giới đủ đầy nhưng họ vẫn không có được hạnh phúc thật sự vì tâm hồn họ đã trở nên khô cằn, mất đi khả năng cảm nhận, tận hưởng cuộc sống do những lo toan, áp lực trong cuộc sống thường ngày.
– Phân tích các khía cạnh của vấn đề:
+ Sự khác biệt trong nhận thức, cách tiếp cận: Trẻ con nhìn thế giới bằng con mắt tò mò, khám phá. Người lớn nhìn thế giới qua lăng kính của kinh nghiệm, định kiến và lo toan.
+ Sự khác biệt về cách cảm nhận: Trẻ con có trí tưởng tượng phong phú, biến những điều bình thường thành phi thường. Người lớn thường bị giới hạn bởi tư duy logic, thực dụng nên càng khó cảm nhận được cái đẹp từ những điều bình dị, nhỏ bé.
=> Trẻ con biết trân trọng những điều nhỏ nhặt, tìm thấy niềm vui từ những điều nhỏ bé. Trong khi đó, người lớn vì thường chạy theo những giá trị vật chất nên đã bỏ qua những điều giản dị mà ý nghĩa. Nguyên do là bởi cuộc sống hiện đại có nhiều áp lực, cạnh tranh khiến người lớn mất đi sự hồn nhiên, lạc quan, vui vẻ trong cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh.
– Bàn luận: Thế nhưng trong cuộc sống hiện nay, dù chúng ta nghiêng quá về cái nhìn nào cũng là điều bất cập. Bởi:
+ Nếu nghiêng về cái nhìn hồn nhiên thì sẽ dần xa rời cuộc sống, chìm đắm trong những ảo mộng hão huyền.
+ Nếu nghiêng về cái nhìn thực tế thì sẽ dần trở nên khô khan, tẻ nhạt và không tìm thấy được hạnh phúc thật sự đang tồn tại xung quanh chúng ta.
=> HS tự liên hệ với bản thân và rút ra bài học: Cần có cái nhìn đúng đắn, hài hòa giữa những cách nhìn để vừa giữ được sự hồn nhiên trong tâm hồn, học được cách cảm nhận những vẻ đẹp bình dị trong cuộc sống, vừa giữ được cái nhìn thực tế, chín chắn trong cuộc sống.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1.
Ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất - xưng "tôi".
Câu 2.
Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là bức tranh vẽ một con trăn nuốt chửng một con voi.
Câu 3.
– HS đưa ra được lí giải hợp lí dựa trên những thông tin được cung cấp trong văn bản.
– Ví dụ: Người lớn khuyên chú bé nên chú tâm vào những môn văn hóa như môn địa, môn sử, môn toán và môn ngữ pháp vì họ cho rằng những môn học này là những môn học quan trọng, sẽ giúp ích được cho chú bé trong tương lai. Điều này cũng cho thấy những người lớn trong văn bản trên có phần thực dụng vì họ chú trọng những yếu tố, lợi ích thực tế hơn là ước mơ hay những giá trị tinh thần của trẻ thơ.
Câu 4.
– Những người lớn trong văn bản được miêu tả là những người vô cảm, thiếu tinh tế và thực dụng.
+ Vô cảm, thiếu tinh tế: Trước trẻ thơ, lẽ ra họ cần có thái độ khích lệ, động viên nhưng họ liên tục dập tắt hi vọng và ước mơ họa sĩ của chú bé.
+ Thực dụng: Vì chỉ quan tâm đến những gì có ích cho cuộc sống tương lai, chứ không hề nghĩ đến việc vun đắp, bồi dưỡng để ước mơ đứa trẻ được lớn lên và hiện thực hóa.
=> Nhận xét: HS nêu nhận xét về những người lớn trong văn bản dựa trên những trải nghiệm cá nhân. Các em có thể nhận xét những người lớn trong văn bản là những người ích kỉ, thiếu sáng suốt,... nhưng cần đưa ra được lí giải hợp lí.
Câu 5.
– Dựa vào nội dung văn bản kết hợp cùng trải nghiệm cá nhân, HS rút ra bài học cho bản thân.
– Một số bài học có thể được rút ra từ văn bản:
+ Cần kiên định theo đuổi ước mơ, đam mê.
+ Cần khích lệ, động viên, trân trọng những ước mơ của con trẻ.
+ Cần chú trọng những giá trị tinh thần hơn trong bối cảnh cuộc sống bộn bề ngày nay.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích bài thơ ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Là người cha yêu thương con sâu sắc, suốt đời suy nghĩ vì con:
++ Vì muốn con được đặt chân vào giới quý tộc để con cái mình nhận được sự kính trọng trong xã hội, ông đã gả hai con cho những người quý tộc giàu có.
++ Dù nhận ra các con không yêu thương mình thật lòng nhưng vẫn cho các con thứ chúng muốn.
++ Đến tận lúc chết vẫn lo cho con, vẫn muốn làm việc để kiếm tiền cho hai cô con gái.
+ Nhận xét:
++ Yêu thương con lầm lạc, mù quáng.
++ Kết cục là phải ra đi trong sự thờ ơ, lạnh nhạt của hai cô con gái.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về sự xa cách giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện đại.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Thực trạng: Ngày nay mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái ngày càng xa cách.
– Biểu hiện:
+ Cha mẹ, con cái ít chia sẻ, giao tiếp với nhau trong cuộc sống hằng ngày.
+ Con cái dành quá nhiều thời gian cho các thiết bị điện tử, mạng xã hội, ít tương tác với gia đình.
+ ...
– Nguyên nhân:
+ Cha mẹ bận bịu với guồng quay công việc trong đời sống hối hả ngày nay.
+ Sự phát triển nhanh chóng, đa dạng của các phương tiện truyền thông, sản phẩm công nghệ.
+ Sự khác biệt về quan điểm sống, lối sống giữa hai thế hệ.
+ Quan điểm giáo dục của bố mẹ chưa phù hợp khi áp đặt, thiếu tôn trọng ý kiến của con cái.
– Hậu quả:
+ Ảnh hưởng đến tâm lí con cái: Cảm giác cô đơn, thiếu thốn tình cảm, dễ bị tổn thương, có thể dẫn đến các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu.
+ Ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con cái: Thiếu sự định hướng, giáo dục từ cha mẹ, con cái dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tiêu cực từ xã hội.
+ Ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình: Mâu thuẫn, xung đột gia tăng, không khí gia đình căng thẳng, ngột ngạt.
+ Ảnh hưởng đến xã hội: Các vấn đề xã hội như bạo lực gia đình, tội phạm vị thành niên có thể xuất phát từ sự xa cách trong gia đình.
– Giải pháp:
+ Cha mẹ cần dành nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc, trò chuyện cùng con cái.
+ Con cái cũng cần chủ động giúp đỡ, bày tỏ tình cảm với cha mẹ.
+ Cha mẹ, con cái cần có sự tôn trọng nhau.
+ Tăng cường những bữa ăn, hoạt động gia đình để tăng sự gắn kết giữa các thành viên.
+ Nhà trường, xã hội cần đẩy mạnh giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp cho các con; hỗ trợ cha mẹ trong việc giao tiếp, chia sẻ, định hướng cho các con.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1.
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 2.
Đề tài: Tình phụ tử.
Câu 3.
– HS bộc lộ suy nghị, cảm xúc của bản thân về lời nói của lão Goriot với Rastignac và có những lí giải hợp lí.
– Lời nói của lão Goriot thể hiện những điều sau:
+ Lão dặn dò Rastignac phải hiếu thảo với cha mẹ chàng vì lão hiểu được sự bất hạnh của người làm cha, làm mẹ khi không được con cái yêu thương, kề cận.
+ Lời dặn dò thể hiện nỗi đau đớn, xót xa khi không được nhìn mặt các con trước phút lâm chung, đồng thời cho thấy sự tủi thân, nỗi buồn thảm của lão khi thiếu sự yêu thương, quan tâm của các con trong suốt mười năm ròng rã.
=> Lời dặn dò cho thấy sự đáng thương của lão Goriot - một người cha yêu con sâu sắc nhưng nhận lại chỉ là sự đắng cay, lạnh lẽo.
Câu 4.
– HS cần lí giải được lí do lão Goriot khát khao được gặp mặt các con trước phút lâm chung dù trước đó lão đã than trách, thậm chí là nguyền rủa những đứa con bất hiếu.
– Lí do: Dù chua xót nhận ra sự thật rằng các con không hề yêu thương mình thật lòng, chúng chỉ yêu thương ông, tìm đến ông để bòn rút tiền của, đến khi ông không còn gì nữa, chúng bỏ mặc ông không màng sống chết, nhưng ông vẫn khát khao được gặp các con vì tình yêu thương, lòng bao dung của ông dành cho hai cô con gái rất rộng lớn. Đó chính là tình cảm đáng quý của người cha già này. Ông yêu con, sẵn sàng hi sinh vì con, bao dung với con cái mình mà không cầu các con hồi đáp lại những gì ông đã trao cho chúng.
Câu 5.
– HS dựa vào những chi tiết trong văn bản để rút ra nhận xét và lí giải phù hợp về hoàn cảnh của lão Goriot vào những giây phút cuối đời.
– Cần bám sát các ý sau:
+ Lão khát khao, mong chờ các con tới gặp mặt lần cuối nhưng kết cục là ra đi khi chưa hoàn thành được tâm nguyện.
+ Những giây phút cuối đời, người ở bên lão chỉ là chàng sinh viên Rastignac và Bianchon.
=> Hoàn cảnh đáng thương, đầy xót xa.
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích bài thơ ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Về nội dung:
++ Hai dòng thơ đầu: Nhận định của tác giả về thơ xưa: Thơ xưa chuộng miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên: Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió. Phác họa cảnh đẹp thiên nhiên, miêu tả khoảnh khắc giao hòa giữa con người với thiên nhiên chính là một trong những nét đặc sắc của cổ thi Trung Quốc. Tác giả yêu thơ ca, trân trọng vẻ đẹp mà cổ thi mang lại nhưng Người không đồng tình với cái khuôn sáng tác đó trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Dựa trên hiện thực lúc đó, Người đã nêu lên quan điểm mới về thơ nay.
++ Hai dòng thơ cuối: Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, trong thơ ca, người nghệ sĩ cần lồng vào đó “chất thép”, tức là thả vào đó tinh thần chiến đấu, cống hiến mạnh mẽ cho đất nước, phục vụ cách mạng. Và những người nghệ sĩ lúc này cũng cần có ý thức “xung phong” trên mặt trận văn học, nghệ thuật đấu tranh với quân thù, góp phần đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
+ Về nghệ thuật:
++ Ngôn ngữ hàm súc, trang trọng.
++ Sử dụng phép đối linh hoạt, vừa tạo nên sự đối sánh giữa thơ xưa và thơ nay vừa thể hiện sự hài hòa, thống nhất, khẳng định được ý nghĩa, sự tất yếu của việc thay đổi về tư duy sáng tác thơ ca lúc bấy giờ.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ở giới trẻ hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Thực trạng: Hiện nay, giới trẻ ngày càng có ý thức hơn trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
– Biểu hiện:
+ Biết trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc: Tết Nguyên đán, Tết Hàn thực, lễ hội làng,…
+ Biết giữ gìn và ưu tiên sử dụng những sản phẩm thủ công truyền thống: Gốm sứ, mây tre đan, lụa tơ tằm,…
+ Có ý thức tái hiện, quảng bá những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc qua các phương tiện truyền thông. (Ví dụ: Tiktoker Tuyết Mai đã quay nhiều video ngắn giới thiệu về trang phục ở các triều đại của dân tộc ta nhằm giúp cho các bạn trẻ Việt Nam thêm hiểu, thêm yêu trang phục truyền thống, thêm trân trọng văn hóa truyền thống của dân tộc.)
+ …
– Ý nghĩa:
+ Giúp giới trẻ hiểu rõ cội nguồn, lịch sử của dân tộc, từ đó nâng cao lòng tự hào, ý thức trách nhiệm đối với dân tộc.
+ Lan tỏa, nâng cao tinh thần yêu nước trong mỗi cá nhân.
+ Góp phần giữ gìn những nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc trong bối cảnh hội nhập nhiều thách thức.
+ Tô đậm bản sắc riêng của dân tộc trên trường quốc tế.
+ Tạo ấn tượng đẹp đẽ, độc đáo trong lòng bạn bè quốc tế.
– Bàn luận: Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại một bộ phận các bạn trẻ có xu hướng sính ngoại, chê bai những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.
– Nguyên nhân:
+ Thiếu hiểu biết về văn hóa truyền thống: Nhiều bạn trẻ vì ảnh hưởng của môi trường sống mà thiếu hiểu biết về những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, vì thế mà thiếu sự trân trọng đối với những nét đẹp văn hóa đó.
+ Sùng bái văn hóa ngoại lai, coi nhẹ văn hóa dân tộc: Tình trạng này là hệ quả của quá trình hội nhập quốc tế và sự du nhập của văn hóa ngoại lai.
+ Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông khiến giới trẻ bị cuốn hút, không còn hứng thú với các hoạt động, sự kiện văn hóa truyền thống của dân tộc.
+ Chương trình giáo dục chưa thực sự chú trọng đến việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
– Giải pháp:
+ Gia đình cần chú trọng giáo dục những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cho con ngay từ khi còn nhỏ, tạo điều kiện cho con tham gia các hoạt động văn hóa tại địa phương.
+ Nhà trường cần chú trọng giáo dục về những nét đẹp văn hóa truyền thống nhiều hơn, tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa về văn hóa.
+ Xã hội cần tăng cường tuyên truyền, quảng bá về văn hóa truyền thống trên các phương tiện truyền thống; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của mỗi địa phương, dân tộc.
+ Mỗi bạn trẻ cần có ý thức tự giác tìm hiểu, học hỏi về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tích cực tham gia tuyên truyền, quảng bá những giá trị đó.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1.
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 2.
Căn cứ vào chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất là chữ “thi” – luật bằng, suy ra bài thơ được triển khai theo luật bằng
Câu3
Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả chỉ ra những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên được đưa vào thơ cổ: Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong. Phép liệt kê được sử dụng ở đây có tác dụng làm rõ cho quan điểm Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ mà tác giả đưa ra trước đó.
Câu 5
Bố cục: Bao gồm 2 phần: Hai câu đầu nói về thơ xưa, hai câu sau nói về thơ nay.
+ Mạch cảm xúc: Hai câu thơ đầu thể hiện sự trân trọng đối với vẻ đẹp thơ xưa, hai câu sau thể hiện sự cởi mở, khuyến khích sự đổi mới về nội dung thơ ca, tư duy sáng tác trong thời đại mới.
=> Bài thơ có kết cấu chặt chẽ, vừa tương phản, đối lập, vừa hài hòa, thống nhất. Đặt thơ xưa với thơ nay trong sự đối lập, tác giả không nhằm hạ thấp thơ xưa, trái lại Người rất trân trọng, yêu thích thơ xưa, nhưng Người không đồng tình với quan điểm sáng tác đó. Nên Người đã nêu lên quan niệm nghệ thuật của mình về thơ nay – cần có “chất thép” ở trong thơ, để thơ ca trở thành một thứ vũ khí sắc bén, còn anh chị em sáng tác sẽ là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ.
Câu 1
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Về nội dung: Nguyễn Du đề cập đến những kiếp người nhỏ bé, đáng thương:
++ Đó là những người đàn ông bị bắt đi lính, phải chịu cái chết oan uổng vì tên rơi đạn lạc.
++ Đó là những người phụ nữ không may phiêu bạt tới chốn lầu xanh. Cuộc đời họ cũng giống như nàng Kiều, đầy ngang trái, éo le, lận đận mà không được hưởng hạnh phúc. Khi về già cũng không nơi nương tựa.
++ Đó là những người hành khất, lang thang nằm cầu gối đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời.
=> Qua đó, chúng ta không chỉ cảm nhận được tấm lòng thương cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những con người khốn cùng ấy, mà còn thấy được truyền thống nhân đạo của dân tộc được thể hiện rất sâu sắc trong đoạn trích.
+ Về nghệ thuật: Các tác phẩm văn tế thường viết theo lối văn biền ngẫu, với quy định chặt chẽ về niêm, luật, vần, đối. Nhưng ở đây, Nguyễn Du đã không viết theo lối văn biền ngẫu với những quy định khắt khe trên mà sử dụng thể thơ dân dã, gần gũi với nhân dân ta hơn là thể song thất lục bát. Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ cũng hết sức dân dã, quen thuộc với đời sống của nhân dân ta.
=> Nguyễn Du đã xuất phát từ nhu cầu thực tế của quần chúng nhân dân trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ để sáng tác bài văn tế này để bày tỏ tấm lòng thương cảm và tinh thần nhân đạo của nhân dân ta đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hiện tượng thế hệ gen Z bị gắn mác, quy chụp bằng nhiều định kiến tiêu cực về lối sống và cách làm việc.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
- Giải thích từ khóa: Gen Z, gắn mác, quy chụp.
- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Thực trạng của vấn đề: Hiện nay, có nhiều bạn trẻ thuộc thế hệ gen Z bị gắn mác về lối sống, các làm việc trong môi trường sinh sống, học tập và làm việc. (Trích dẫn số liệu, minh chứng cụ thể, chính xác, đầy đủ)
+ Nguyên nhân của vấn đề:
++ Một số cá nhân có biểu hiện không tốt dẫn đến những ấn tượng không tốt trong mắt mọi người xung quanh.
++ Cái nhìn phiến diện, đánh đồng của mọi người.
+ Hệ quả: Nhiều bạn trẻ sẽ gặp phải những trở ngại như:
++ Dễ bị ảnh hưởng về mặt tâm lý bởi những yếu tố tiêu cực từ sự đánh giá, quy chụp của mọi người xung quanh.
++ Khó hòa nhập với tập thể.
++ Khó có cơ hội thăng tiến tại nơi làm việc.
+ Giải pháp:
++ Tích cực thay đổi, thể hiện bản thân để thay đổi định kiến của mọi người.
++ Góp ý cho những bạn trẻ khác có biểu hiện không tốt để đối phương thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1.
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên là: Biểu cảm, tự sự, miêu tả.
Câu 2.
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích là:
- Những người đàn ông bị bắt đi lính, chẳng may gặp cảnh buổi chiến trận mạng người như rác, mà bỏ mạng nơi sa trường.
- Những người đàn bà vì dòng đời lận đận mà phiêu bạt tới chốn lầu xanh.
- Những người hành khất, lang thang, phải sống cảnh màn trời chiếu đất, sống nhờ vào sự bố thí của người đời.
Câu 3.
- HS xác định những từ láy được sử dụng trong hai câu thơ: lập lòe (từ láy tượng hình), văng vẳng (từ láy tượng thanh).
- HS phân tích hiệu quả của việc sử dụng từ láy trong hai câu thơ:
+ Khắc họa trạng thái của sự vật: lập lòe gợi ánh sáng khi mờ khi tỏ (ý chỉ linh hồn của những người lính chết trận); văng vẳng gợi âm thanh vọng lại từ xa, không rõ ràng (ý chỉ tiếng ai oán của những vong linh ấy).
+ Nhấn mạnh lòng thương xót của Nguyễn Du dành cho những người lính chết oan uổng nơi sa trường lạnh lẽo.
Câu 4.
- Chủ đề: Sự đáng thương của những kiếp người nhỏ bé.
- Cảm hứng chủ đạo: Xuyên suốt đoạn trích là tấm lòng thương cảm, xót xa của Nguyễn Du đối với những kiếp người nhỏ bé, đáng thương, khổ sở.
Câu 5.
* HS trình bày suy nghĩ của mình về truyền thống nhân đạo của dân tộc, sao cho đảm bảo về mặt hình thức và hoàn chỉnh về nội dung. HS có thể tham khảo gợi ý dưới đây:
- Truyền thống nhân đạo là truyền thống quý báu và lâu đời của dân tộc ta.
- Biểu hiện:
+ Thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Thương người như thể thương thân, Lá lành đùm lá rách, Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng,...
+ Trong Văn tế thập loại chúng sinh: Truyền thống nhân đạo được thể hiện qua tình yêu thương, sự đồng cảm, xót xa mà Nguyễn Du dành cho những kiếp người khốn cùng, khổ sở.
+ HS chỉ ra một số biểu hiện của truyền thống nhân đạo trong đời sống hiện nay: Các chương trình, hoạt động quyên góp, thiện nguyện hàng năm của các tổ chức, tập thể; tinh thần tương trợ giúp đỡ người gặp nạn của nhân dân ta. (Tìm dẫn chứng cụ thể, người thật việc thật trong cuộc sống)
- Ý nghĩa của truyền thống nhân đạo:
+ Giúp con người thấu hiểu, đồng cảm với nhau hơn.
+ Giúp cho cuộc đời thêm ý nghĩa, đẹp đẽ.
- Cho đến ngày hôm nay, truyền thống này vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: làm sáng tỏ mong muốn của Tam Lang về nghề kéo xe chở người thời Cách mạng tháng Tám năm 1945 qua văn bản Tôi kéo xe.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Những người làm nghề kéo xe chở người phải làm lụng rất vất vả, dãi dầu mưa nắng, phải chịu đựng sự giục giã, khinh thường, mắng mỏ của khách hàng. Thậm chí, họ còn bị đánh khi chẳng may làm khách hàng phật ý. Chính vì thế, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của họ cứ mòn dần đi theo năm tháng.
+ Qua phóng sự Tôi kéo xe, Tam Lang không chỉ thể hiện sự đồng cảm, thương xót cho những kiếp người nhỏ bé, đáng thương, lam lũ, vất vả và không nhận được sự tôn trọng trước Cách mạng tháng Tám; mà còn gián tiếp lên tiếng cần phải loại bỏ cái nghề này, góp phần cải tạo đời sống xã hội.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
- Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của sự nỗ lực trong cuộc sống.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Giải thích vấn đề nghị luận.
- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Sự nỗ lực là yếu tố quan trọng, giúp con người hoàn thiện hơn về kỹ năng, phẩm chất; thúc đẩy con người vượt qua khó khăn và thử thách; giúp con người chinh phục được những ước mơ, tìm thấy chính mình trên đường đời;...
+ Sự nỗ lực của từng cá nhân góp phần vào sự phát triển chung của xã hội; tạo ra những giá trị tốt đẹp, thành tựu lớn cho cộng đồng;...
+ Để phát triển sự nỗ lực của bản thân, chúng ta cần: xác định mục tiêu cụ thể để tạo ra động lực; tự giác và kỷ luật để duy trì sự nỗ lực;...
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện.
* Khẳng định lại ý nghĩa của sự hi sinh trong tình yêu và truyền tải thông điệp cá nhân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1.
Thể loại: phóng sự.
Câu 2.
Văn bản ghi chép về sự việc: nhân vật "tôi" kéo một cuốc xe từ Đồn Thủy lên Yên Phụ, bộc lộ những cảm nghĩ của mình trong và sau khi kéo xe.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là: so sánh, liệt kê.
- Tác dụng: diễn tả sâu sắc, chân thực cảm nhận mệt mỏi, đau đớn của nhân vật "tôi" khi kéo cuốc xe.
Câu 4.
HS có thể lựa chọn một chi tiết trong đoạn trích gây ấn tượng nhất đối với mình (có thể là chi tiết miêu tả những cảm giác, cảm xúc hoặc nói lên suy nghĩ của nhân vật "tôi" trong lúc kéo xe hoặc sau khi kéo xe) và đưa ra được lí giải hợp lí. Gợi ý: Em ấn tượng nhất với câu nói: "Người làm cu-li xe kéo, người chết non". Vì câu nói ấy gợi lên sự vất vả, nhọc nhằn của người làm nghề kéo xe. Họ không chỉ phải trải qua những nỗi đau đớn về thể xác mà còn cảm thấy tủi nhục do bị ức hiếp, coi thường. Những sự đọa đày về cả thể xác và tinh thần ấy có thể khiến họ "chết non". Câu nói ấy gián tiếp phản ánh thân phận bất hạnh của những người phu xe và những bất công, ngang trái trong xã hội đương thời.
Câu 5.
Qua văn bản, tác giả thể hiện sự cảm thương đối với những kiếp người bần cùng phải đem thân mình làm thân trâu ngựa để kiếm sống; đồng thời khẳng định nghề kéo xe là một "cái nhục chung" của xã hội, từ đó gián tiếp lên tiếng cần phải loại bỏ cái nghề này ra khỏi đời sống.