Ngô Thanh Doan

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ngô Thanh Doan
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Đoạn trích "Tự tình với quê hương" của Lê Gia Hoài đã chạm đến những điều thiêng liêng nhất trong lòng em về tình yêu đối với cội nguồn. Với ngôn ngữ giản dị , giàu sức gợi, tác giả đã vẽ nên một bức tranh quê hương vừa hiền hòa, vừa hùng vĩ. Tình yêu ấy được khơi nguồn từ những điều gần gũi như "lời mẹ hát" bên nôi, rồi mở rộng ra không gian bao la của dòng Lô giang phù sa. Đặc biệt, niềm tự hào dân tộc trong em như dâng cao khi bắt gặp hình ảnh ngọn Tam Đảo "reo âm vang" và tháp Bình Sơn đứng "mặc trầm" như một chứng nhân lịch sử. Những địa danh ấy không chỉ là cảnh sắc, mà đã trở thành biểu tượng của sức sống bền bỉ và khí phách của cha ông. Khép lại đoạn trích, hình ảnh "tiếng quê mình" và thơ Xuân Hương hòa quyện vào trang sách học trò đã khẳng định rằng: quê hương không chỉ là mảnh đất ta đứng, mà còn là tâm hồn, là ngôn ngữ và văn hóa nuôi dưỡng ta khôn lớn. Đọc những vần thơ này, em cảm thấy mình cần có trách nhiệm hơn trong việc học tập và rèn luyện để góp phần dựng xây quê hương ngày càng giàu đẹp.

Câu 2:

Trong tình hình kỷ nguyên công nghệ số bùng nổ như hiện nay, việc quảng bá văn hóa truyền thống không còn bó hẹp trong không gian bảo tàng hay các lễ hội địa phương mà đã mở ra những sáng kiến mới đầy tiềm năng. Đây là vấn đề vừa cấp thiết nhưng cũng vừa là một cơ hội vàng để cho những giá trị di sản văn hóa của ông cha ta được hồi sinh và lan tỏa mạnh mẽ. Công nghệ số, với sự hỗ trợ của Internet, mạng xã hội (Facebook, TikTok, Instagram) và các công nghệ hiện đại như thực tế ảo , trí tuệ nhân tạo (AI), đã trở thành "cánh tay nối dài" đưa văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng. Thay vì những trang sử khô khan, thế hệ trẻ có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Cố đô Huế qua những thước phim flycam sắc nét, hay trải nghiệm không gian gốm sứ Bát Tràng qua các ứng dụng 3D sinh động. Sự kết hợp giữa yếu tố cổ điển và hiện đại giúp văn hóa truyền thống trở nên "hợp thời", dễ tiếp nhận và xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý. Quảng bá văn hóa trên nền tảng số mang lại hiệu quả lan tỏa cực kỳ to lớn. Một video ngắn về tà áo dài hay nghệ thuật múa rối nước có thể đạt hàng triệu lượt xem, thu hút sự chú ý của bạn bè quốc tế chỉ sau một đêm. Điều này không chỉ giúp gìn giữ bản sắc dân tộc mà còn thúc đẩy kinh tế, du lịch phát triển bền vững. Tuy nhiên, thời đại số cũng đặt ra không ít thách thức. Sự phát triển quá nhanh đôi khi dẫn đến tình trạng "biến tướng" văn hóa, hoặc các nội dung truyền thống bị lấn át bởi những trào lưu giải trí nhất thời. Vì vậy, để việc quảng bá thực sự hiệu quả, cần có sự đầu tư bài bản và tâm huyết. Các nhà quản lý văn hóa cần xây dựng các kho dữ liệu số chuẩn xác, trong khi những "người sáng tạo nội dung" trẻ tuổi cần sự nhạy bén nhưng phải dựa trên tinh thần tôn trọng nguyên bản. Mỗi cá nhân khi chia sẻ một hình ảnh đẹp về quê hương cũng chính là đang góp một viên gạch để xây dựng lâu đài văn hóa dân tộc trên không gian mạng. Tóm lại, công nghệ số là công cụ, còn văn hóa là linh hồn. Biết tận dụng công nghệ để kể những "câu chuyện cũ" theo cách mới là con đường ngắn nhất để đưa tinh hoa dân tộc vươn tầm thế giới và trường tồn với thời gian.


Câu 1:

PTBĐ chính của văn bản là thuyết minh

Câu 2

Quần thể di tích Cố đô Huế được UNSECO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1993

Câu 3:

Văn bản sử dụng loại phương tiện phi ngôn ngữ là hình ảnh. Tác dụng giúp cho người đọc có thể hình dung được một cách trực quan nhất về di tích Cố Đô

Câu 4:

Văn bản sử dụng các mốc thời gian như ( từ 1802 đến 1945, nhà Nguyễn,.. ) để chứng minh cho ta thấy những giá trị lịch sử, kiến trúc bền vững và văn hóa đặc sắc của di sản

Câu 5:

Quần thể di tích Cố đô Huế không chỉ là niềm tự hào của những người con xứ Huế, mà còn là một di sản văn hóa thế giới và cũng là niềm tự hào của người dân Việt Nam ta. Được ghép lại từ những giá trị lịch sử, những kiến trúc và nghệ thuật đặc sắc của người dân Việt Nam. Việc bảo tồn và phát huy chúng là rất quan trọng. Trước hết, mỗi bạn trẻ cần chủ động tìm hiểu lịch sử, kiến trúc để thêm trân trọng những giá trị mà cha ông để lại. Việc sử dụng mạng xã hội để quảng bá hình ảnh cố đô một cách sáng tạo, văn minh đến bạn bè quốc tế cũng là một cách lan tỏa tình yêu di sản hiệu quả. Bên cạnh đó, chúng ta phải tuyệt đối tuân thủ các quy định tại di tích như không viết vẽ bậy, không xâm hại hiện vật và tích cực tham gia các phong trào tình nguyện bảo vệ môi trường cảnh quan. Chính ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay sẽ là chìa khóa để giữ gìn "linh hồn" di sản cho muôn đời sau.

Nội dung phân biệt

Nguyên phân

Giảm phân

Tế bào thực hiện phân bào

tế bào sinh dưỡng và tế bào sinh dục khai sơ.

tế bài sinh dục thời kì chính

Kết quả phân bào từ một tế bào mẹ (2n)

tạo ra 2 tế bào con

tạo ra 4 tế bào con

Số lượng NST trong tế bào con

2n ( giữ nguyên bộ NST lưỡng bội)

n ( bộ NST giảm đi một nửa - đơn bội)

Các tế bào con có bộ NST giống hay khác tế bào mẹ

giống hệt tế bào mẹ

khác tế bào mẹ về số lượng và cấu trúc NST


- Đạo đức sinh học là những quy tắc ứng xử phù hợp với đạo đức xã hội trong nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu của sinh học vào thực tiễn, bao hàm sự đánh giá về lợi ích và rủi ro bởi các can thiệp của con người vào sự sống.

- Chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến vấn để đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ di truyền vì: Bên cạnh những lợi ích đem lại, công nghệ di truyền cũng đã can thiệp vào hệ gene của sinh vật, làm thay đổi sự phát triển tự nhiên của sinh vật và phát sinh các vấn đề liên quan đến đạo đức sinh học. Do đó, nếu không đảm bảo các vấn đề về đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ di truyền thì sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy cho sự ổn định và phát triển của xã hội.

- Đạo đức sinh học là những quy tắc ứng xử phù hợp với đạo đức xã hội trong nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu của sinh học vào thực tiễn, bao hàm sự đánh giá về lợi ích và rủi ro bởi các can thiệp của con người vào sự sống.

- Chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến vấn để đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ di truyền vì: Bên cạnh những lợi ích đem lại, công nghệ di truyền cũng đã can thiệp vào hệ gene của sinh vật, làm thay đổi sự phát triển tự nhiên của sinh vật và phát sinh các vấn đề liên quan đến đạo đức sinh học. Do đó, nếu không đảm bảo các vấn đề về đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ di truyền thì sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy cho sự ổn định và phát triển của xã hội.

Câu 1:

Văn bản trên thuộc thể loại: văn bản nghị luận

Câu 2:

Vấn đề ý thức giữ gìn sự trong sáng và tôn vinh tiếng Việt ( chữ ta) trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phê phán sự sính ngoại thái quá ở một số nơi 

Câu 3:

  • Lí lẽ: Sự tự trọng quốc gia thể hiện qua việc tôn trọng ngôn ngữ dân tộc, ngay cả khi mở cửa hội nhập. 
  • Bằng chứng:
  • Tại Hàn Quốc: Quảng cáo không đặt ở nơi công cộng quan trọng, chữ Hàn luôn to hơn tiếng Anh, báo chí trong nước dùng tiếng Hàn là chính.
    • Tại Việt Nam: Bảng hiệu nhiều nơi, thậm chí của cơ sở nhà nước, lại để tiếng Anh lớn hơn tiếng Việt; báo chí hay tóm tắt tiếng nước ngoài ở trang cuối chỉ để cho "oai". 
  • Câu 4:
  • Thông tin khách quan: "Khắp nơi đều có quảng cáo nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh (ở Hàn Quốc)".
  • Ý kiến chủ quan: "Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm".
  • Câu 5: Thông điệp là cần nâng cao lòng tự tôn dân tộc, hội nhưng nhưng không " hòa tan ", tôn trọng và ưu tiên sử dụng tiếng Việt trên các bảng hiệu và truyền thông

Câu 1:

Xã hội ngày càng hiện đại, phát triển giúp cho giới trẻ chúng ta có được cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề trong cuộc sống. Và việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc là một " từ khóa " đang được bàn tán xôn xao trên các nền tảng và đời sống. Vậy đầu tiên chúng ta cần phải định nghĩa được ngôn ngữ dân tộc là gì ? Ngôn ngữ là một trong những tài sản quý giá của nhất của đất nước, mang lại nét riêng biệt cho một dân tộc, ngôn ngữ dân tộc là một ngôn ngữ chung, là phương tiện giao tiếp và là biểu tượng văn hóa đặc trưng, thể hiện hồn cốt bản sắc riêng của một cộng đồng quá nhiều năm lịch sử. Ngôn ngữ dân tộc đóng vai trò là một " linh hồn ", là một món tài sản vô giá là chìa khóa độc lập cho một đất nước, dân tộc. Ngôn ngữ dân tộc đồng thời còn là công cụ truyền tải một nền văn hóa, một tinh thần dân tộc. Có câu nói rằng : " Tiếng Việt còn, nước Nam còn " đã khẳng định và cho chúng ta thấy rằng vai trò vô cùng quan trọng của ngôn ngữ dân tộc. Và bất kì ai trên đất nước chúng ta cần phải có ý thức giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc chúng là một trách nhiệm thiêng liêng, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại hội nhập như ngày nay. Điều này không có nghĩa là loại bỏ từ mượn, mà là sử dụng tiếng nước ngoài hay ngôn ngữ mang lệch chuẩn. Tiếng Việt là " thứ của cải lâu đời và quý báu " ( Chủ Tịch Hồ Chí Minh), đại diện cho tâm hồn của những tâm hồn người Việt. Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện này, việc lạm dụng từ "lóng" khiến tiếng Việt trở nên lai tạp, nhạt nhòa bản sắc dân tộc. Để giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ, mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, những mầm non tương lai của đất nước cần nâng cao ý thức, sử dụng từ ngữ văn minh, chuẩn mực, đồng thời tích cực trau dồi vốn tiếng Việt thông qua việc đọc sáng, báo hay các tác phẩm văn chương. Giữ gìn ngôn ngữ dân tộc là giữ gìn linh hồn dân tộc, giúp văn hóa Việt Nam càng ngày càng bền vững trước những sự biến động, chuyển mình của thời đại.

Câu 2:

Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn, là dòng máu chảy trong huyết quản của người dân Việt Nam. Bài thơ " TIẾNG VIỆT CỦA CHÚNG MÌNH TRẺ LẠI TRƯỚC MÙA XUÂN " của tác giả Phạm Văn Tình là một ca khúc tha thiết, tôn vinh vẻ đẹp vĩnh cửu và sức sống thanh xuân của ngôn ngữ dân tộc trong dòng chảy lịch sử đất nước.

Trước hết, về nội dung tác phẩm là sự kết hợp giữa niềm tự hào quá khứ và niềm tin vào một tương lai. Tác giả đã khéo léo ngược dòng thời gian khơi gợi cho chúng ta thấy những biểu tưởng văn hóa và lịch sử đậm nét như: " Vó ngựa hãm Cổ Loa ", " mũi tên thần " đến nỗi đau " thương nàng Kiều rơi lệ " . Tiếng việt hiện lên như một nhân chứng sống lịch sử, được tô luyện qua những thăng trầm của lịch sử để rồi trở thành một niềm " ân tình " sâu sắc.Hình ảnh " trẻ lại trước mùa xuân " mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: dù trải qua hàng nghìn năm, tiếng mẹ đẻ vẫn không hề già cỗi mà luôn tự làm mới, thích nghi và trần đầy sức sống thời đại mới.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh và biểu cảm cao. Thể thơ linh hoạt tạo nên nhịp điệu lúc lại mềm mại, sâu lắng như lời tâm tình. Việc sử dụng các hình ảnh lịch sử và văn học (Cổ Loa, Truyện Kiều) không làm bài thơ trở nên nặng nề mà trái lại, tạo nên một độ dày văn hóa, giúp người đọc cảm nhận được tầm quan trọng của tiếng Việt. Biện pháp nhân hóa "Tiếng Việt trẻ lại" giúp người đọc hình dung về ngôn ngữ như một cơ thể sống, một thực thể có tâm hồn và cảm xúc. Tóm lại, bài thơ là một lời khẳng định đanh thép về giá trị của tiếng Việt. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng: yêu tiếng Việt chính là yêu cội nguồn, và giữ cho tiếng Việt "trẻ lại" chính là giữ cho hồn thiêng sông núi mãi trường tồn.