Nguyễn Thị Thập

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Thập
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Từ năm 1991 đến nay, kinh tế Nhật Bản trải qua thời kỳ trì trệ dài hạn ("thập kỷ mất mát") với tăng trưởng thấp và khủng hoảng xen kẽ, nhưng vẫn duy trì vị thế là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới. Xã hội đối mặt với già hóa dân số nghiêm trọng, tuy nhiên chất lượng cuộc sống, y tế và giáo dục vẫn ở mức rất cao.  1. Tình hình kinh tế (từ 1991):
  • Trì trệ và suy thoái: Sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu những năm 1990, Nhật Bản lâm vào thời kỳ tăng trưởng yếu ớt, suy thoái xen kẽ (giai đoạn "thập kỷ mất mát" kéo dài).
  • Vị thế toàn cầu: Dù tăng trưởng chậm, Nhật Bản vẫn đứng trong top đầu thế giới về GDP (chỉ số GNP năm 2000 vẫn rất cao), là trung tâm tài chính - tài chính quốc tế lớn.
  • Tăng trưởng GDP: Có sự biến động, năm 2018-2020 tăng trưởng GDP thấp, thậm chí âm (-4.15% năm 2020). 
2. Tình hình xã hội:
  • Chất lượng cuộc sống: Nhật Bản duy trì chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức rất cao, đứng thứ 7 thế giới.
  • Già hóa dân số: Dân số già, tỷ lệ sinh giảm, thiếu hụt lao động là thách thức lớn nhất.
  • Y tế & An sinh: Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe toàn diện và tiên tiến bậc nhất.
  • Công nghệ & Giáo dục: Đứng đầu thế giới về công nghệ, tự động hóa và giáo dục chất lượng cao. 
Tóm lại: Nhật Bản từ năm 1991 là bức tranh đối lập giữa một nền kinh tế tăng trưởng chậm chạp và một xã hội có chất lượng cuộc sống, công nghệ, an sinh xã hội đỉnh cao
Cộng đồng ASEAN (AC) chính thức ra đời vào ngày 31/12/2015, đánh dấu bước ngoặt liên kết sâu rộng dựa trên 3 trụ cột: Chính trị-An ninh (APSC), Kinh tế (AEC), và Văn hóa-Xã hội (ASCC). Tiền thân là ý tưởng từ năm 1997, cộng đồng này hướng tới mục tiêu xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định, thịnh vượng và gắn kết.  Sự ra đời của Cộng đồng ASEAN
  • Ý tưởng và Quyết định: Khởi nguồn từ Tầm nhìn ASEAN 2020 (năm 1997) và được củng cố bằng Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II tại Hội nghị cấp cao ASEAN 9 (Bali, 2003), xác định xây dựng cộng đồng vào năm 2020.
  • Đẩy nhanh tiến độ: Năm 2007, các nhà lãnh đạo đồng ý đẩy nhanh lộ trình, quyết tâm thành lập Cộng đồng vào năm 2015.
  • Chính thức thành lập: Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN chính thức ra đời, đánh dấu việc chuyển từ liên kết hợp tác sang một liên minh chặt chẽ hơn. 
Những nét chính của Cộng đồng ASEAN
Cộng đồng được xây dựng trên 3 trụ cột chính:
  1. Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC): Hướng tới tạo dựng môi trường hòa bình, an ninh và ổn định thông qua các nguyên tắc ứng xử, xây dựng lòng tin, và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
  2. Cộng đồng Kinh tế (AEC): Tạo ra một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề.
  3. Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC): Gắn kết người dân, nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy bản sắc ASEAN và phát triển bền vững. 
Câu 1 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ là bảo vệ ngôn ngữ mà còn là bảo vệ linh hồn, văn hóa dân tộc. Sự trong sáng thể hiện qua việc sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực, giàu bản sắc, không lạm dụng từ mượn vô tội vạ hay ngôn ngữ mạng lệch chuẩn. Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần hiểu rằng Yêu quê hương đất nước hay yêu những bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc tiêu biểu có ngôn ngữ tiếng không phải được thể hiện qua cảm xúc hay những lời nói vu vơ mà còn cần trí tuệ, hành động thiết thực để chứng minh và khẳng định bản lĩnh của chính mình. Qua việc trau dồi vốn từ, viết và nói đúng chính tả, ngữ pháp, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những cái mới để làm giàu ngôn ngữ mẹ đẻ. Việc này giúp tiếng Việt trường tồn, phát triển bền vững và khẳng định giá trị riêng trong thời đại hội nhập. Hãy yêu tiếng Việt như yêu chính quê hương mình, bắt đầu từ những câu nói giản dị hằng ngày. Câu 2 Bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" của PGS. TS. Phạm Văn Tình là một nốt nhạc trong trẻo, sâu lắng trong dòng chảy thi ca về ngôn ngữ dân tộc. Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp vĩnh cửu của tiếng Việt mà còn khẳng định sức sống bất diệt của tiếng mẹ đẻ qua bao thăng trầm lịch sử, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại. Mở đầu bài thơ, tác giả đưa người đọc về với cội nguồn, nơi tiếng Việt hình thành từ "thời xa lắm". Vẻ đẹp ấy được khắc họa qua hình ảnh "vó ngựa hãm Cổ Loa", "mũi tên thần" và "hồn Lạc Việt", gợi nhắc về một thời dựng nước và giữ nước oai hùng. Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà là hồn cốt của dân tộc, là "vó ngựa", là "mũi tên" bảo vệ bờ cõi.  Tiếp đó, tác giả khẳng định sự trường tồn của tiếng Việt qua những giai đoạn lịch sử gian khổ. "Bao thế hệ đam mê" và lời "Hịch năm nào" cùng tiếng thơ của Nguyễn Du đã tạo nên "cả dân tộc thương nàng Kiều rơi lệ". Lời Bác Hồ dạy, tiếng mẹ đẻ không chỉ là tiếng gọi, mà còn là "tiếng thơ" vươn tới, thể hiện sự nồng nàn, sâu sắc. Đặc biệt, hai câu cuối: "Ơi tiếng Việt mãi nồng nàn trong câu hát dân ca!" là một lời khẳng định đầy cảm xúc về sự gần gũi, ấm áp của ngôn ngữ mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày.  Vẻ đẹp hiện đại của tiếng Việt được thể hiện qua hình ảnh "trẻ lại trước mùa xuân". "Bánh chưng xanh" - biểu tượng của văn hóa, "bóng chim Lạc" - biểu tượng của cội nguồn, cùng nhau tạo nên bức tranh đầy sức sống. Sự trẻ lại ấy thể hiện qua việc ngôn ngữ vẫn luôn "nảy lộc đâm chồi", "thức dậy những vần thơ" trong thời đại mới. Thành công của viên ngọc sáng ấy, không chỉ đến từ sự sâu sắc, ý nghĩa của nội dung mà nó mang lại mà còn đến từ những phép nghệ thuật đầy đã thổi hồn vào . Bài thơ sử dụng thể thơ tự do, ngôn ngữ bình dị, hình ảnh ẩn dụ (vó ngựa, chim Lạc, bánh chưng xanh) mang tính biểu tượng cao. Nhịp điệu linh hoạt, vừa hoài niệm vừa rộn rã, thể hiện sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại. Cuối cùng ta hiểu rằng"Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" là một bài thơ hay, đầy xúc cảm. Tác phẩm không chỉ khơi gợi lòng tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở thế hệ trẻ về ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đó là tình yêu, là trách nhiệm để tiếng mẹ đẻ luôn nồng nàn, trẻ mãi cùng thời gian. Chính vì lẽ ấy mà tác phẩm đã sống mãi trong lòng bạn đọc mọi thời đại.
Câu 1 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ là bảo vệ ngôn ngữ mà còn là bảo vệ linh hồn, văn hóa dân tộc. Sự trong sáng thể hiện qua việc sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực, giàu bản sắc, không lạm dụng từ mượn vô tội vạ hay ngôn ngữ mạng lệch chuẩn. Mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần hiểu rằng Yêu quê hương đất nước hay yêu những bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc tiêu biểu có ngôn ngữ tiếng không phải được thể hiện qua cảm xúc hay những lời nói vu vơ mà còn cần trí tuệ, hành động thiết thực để chứng minh và khẳng định bản lĩnh của chính mình. Qua việc trau dồi vốn từ, viết và nói đúng chính tả, ngữ pháp, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những cái mới để làm giàu ngôn ngữ mẹ đẻ. Việc này giúp tiếng Việt trường tồn, phát triển bền vững và khẳng định giá trị riêng trong thời đại hội nhập. Hãy yêu tiếng Việt như yêu chính quê hương mình, bắt đầu từ những câu nói giản dị hằng ngày. Câu 2 Bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" của PGS. TS. Phạm Văn Tình là một nốt nhạc trong trẻo, sâu lắng trong dòng chảy thi ca về ngôn ngữ dân tộc. Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp vĩnh cửu của tiếng Việt mà còn khẳng định sức sống bất diệt của tiếng mẹ đẻ qua bao thăng trầm lịch sử, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại. Mở đầu bài thơ, tác giả đưa người đọc về với cội nguồn, nơi tiếng Việt hình thành từ "thời xa lắm". Vẻ đẹp ấy được khắc họa qua hình ảnh "vó ngựa hãm Cổ Loa", "mũi tên thần" và "hồn Lạc Việt", gợi nhắc về một thời dựng nước và giữ nước oai hùng. Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà là hồn cốt của dân tộc, là "vó ngựa", là "mũi tên" bảo vệ bờ cõi.  Tiếp đó, tác giả khẳng định sự trường tồn của tiếng Việt qua những giai đoạn lịch sử gian khổ. "Bao thế hệ đam mê" và lời "Hịch năm nào" cùng tiếng thơ của Nguyễn Du đã tạo nên "cả dân tộc thương nàng Kiều rơi lệ". Lời Bác Hồ dạy, tiếng mẹ đẻ không chỉ là tiếng gọi, mà còn là "tiếng thơ" vươn tới, thể hiện sự nồng nàn, sâu sắc. Đặc biệt, hai câu cuối: "Ơi tiếng Việt mãi nồng nàn trong câu hát dân ca!" là một lời khẳng định đầy cảm xúc về sự gần gũi, ấm áp của ngôn ngữ mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày.  Vẻ đẹp hiện đại của tiếng Việt được thể hiện qua hình ảnh "trẻ lại trước mùa xuân". "Bánh chưng xanh" - biểu tượng của văn hóa, "bóng chim Lạc" - biểu tượng của cội nguồn, cùng nhau tạo nên bức tranh đầy sức sống. Sự trẻ lại ấy thể hiện qua việc ngôn ngữ vẫn luôn "nảy lộc đâm chồi", "thức dậy những vần thơ" trong thời đại mới. Thành công của viên ngọc sáng ấy, không chỉ đến từ sự sâu sắc, ý nghĩa của nội dung mà nó mang lại mà còn đến từ những phép nghệ thuật đầy đã thổi hồn vào . Bài thơ sử dụng thể thơ tự do, ngôn ngữ bình dị, hình ảnh ẩn dụ (vó ngựa, chim Lạc, bánh chưng xanh) mang tính biểu tượng cao. Nhịp điệu linh hoạt, vừa hoài niệm vừa rộn rã, thể hiện sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại. Cuối cùng ta hiểu rằng"Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" là một bài thơ hay, đầy xúc cảm. Tác phẩm không chỉ khơi gợi lòng tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở thế hệ trẻ về ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đó là tình yêu, là trách nhiệm để tiếng mẹ đẻ luôn nồng nàn, trẻ mãi cùng thời gian. Chính vì lẽ ấy mà tác phẩm đã sống mãi trong lòng bạn đọc mọi thời đại.