Nguyễn Thu Trà

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thu Trà
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

- Tình hình kinh tế:

+ Từ năm 1991 đến nay, nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa thoát trì trệ, xen lẫn giữa suy thoái tăng trưởng yếu ớt.

+ Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn là một trong những tâm kinh tế-tài chính lớn thế giới.

+ Năm 2010, vị thế nền kinh tế lớn thứ hai thế giới xác lập trong hơn bốn thập kỉ của Nhật Bản đã bị Trung Quốc vượt qua.

- Tình hình xã hội:

+ Nhật Bản là quốc gia có chất cuộc sống cao với hệ thống tế, chăm sóc sức khoẻ đảm bảo toàn diện.

+ Nhật Bản vẫn là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao, đạt hơn 39.000 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức rất cao, đứng thứ 7 thế giới, tuổi thọ trung bình thuộc nhóm nước cao nhất thế giới (85 tuổi).


- Tình hình kinh tế:

+ Từ năm 1991 đến nay, nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa thoát trì trệ, xen lẫn giữa suy thoái tăng trưởng yếu ớt.

+ Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn là một trong những tâm kinh tế-tài chính lớn thế giới.

+ Năm 2010, vị thế nền kinh tế lớn thứ hai thế giới xác lập trong hơn bốn thập kỉ của Nhật Bản đã bị Trung Quốc vượt qua.

- Tình hình xã hội:

+ Nhật Bản là quốc gia có chất cuộc sống cao với hệ thống tế, chăm sóc sức khoẻ đảm bảo toàn diện.

+ Nhật Bản vẫn là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao, đạt hơn 39.000 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức rất cao, đứng thứ 7 thế giới, tuổi thọ trung bình thuộc nhóm nước cao nhất thế giới (85 tuổi).


Trong dòng chảy của ngôn ngữ, tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn của dân tộc. Qua văn bản "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân", tác giả Phạm Văn Tình đã đem đến những chiêm nghiệm sâu sắc về sức sống mãnh liệt và vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ khi giao hòa cùng sắc xuân. Về nội dung, tác phẩm là một lời khẳng định về sự vận động không ngừng của tiếng Việt. Tác giả khéo léo kết nối hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên với "mùa xuân" trong ngôn từ. Mùa xuân đem đến nhựa sống mới, làm cảnh vật đâm chồi nảy lộc, và tiếng Việt cũng vậy – nó luôn tự làm mới mình, thanh lọc những cũ kỹ để tiếp nhận những giá trị hiện đại. Qua đó, Phạm Văn Tình thể hiện niềm tự hào, tình yêu tha thiết và ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Ông nhắc nhở chúng ta rằng, tiếng Việt chỉ "trẻ lại" khi mỗi người dân biết trân trọng và sử dụng nó một cách văn minh, đầy sáng tạo. Về nghệ thuật, văn bản gây ấn tượng bởi phong cách nghị luận giàu chất trữ tình. Tác giả sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu uyển chuyển như một bài tùy bút, giúp những lý lẽ về ngôn ngữ học trở nên gần gũi, dễ đi vào lòng người. Việc sử dụng các biện pháp tu từ như nhân hóa (tiếng Việt "trẻ lại", "hồi sinh") và so sánh ví von giúp diễn đạt sinh động sức sống tiềm tàng của ngôn ngữ. Cấu trúc lập luận chặt chẽ, đi từ những cảm quan về mùa xuân đến những suy tư về văn hóa, tạo nên một chỉnh thể thống nhất và giàu sức thuyết phục. Tóm lại, bằng sự kết hợp tài hoa giữa tư duy khoa học và tâm hồn nghệ sĩ, Phạm Văn Tình đã tôn vinh vẻ đẹp của tiếng Việt. Văn bản không chỉ là một bài nghị luận mà còn là một bản tình ca về ngôn ngữ, khơi dậy trong lòng mỗi người đọc ý thức bảo tồn "viên ngọc quý" của dân tộc giữa dòng chảy thời gian.

Câu 1: Nghị luận
Câu 2: Bàn về : Giữ gìn ban sắc văn hóa ngôn ngữ trong thời kì mở cửa và phê phán sử dụng từ ngữ nước ngoài bừa bãi
Câu 3: Lí lẽ 1: Tiếng Việt là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa, là bản sắc dân tộc, cần được trân trọng và sử dụng đúng đắn.
Bằng chứng 1: Tác giả đưa ra các hiện tượng lạm dụng tiếng nước ngoài (tiếng Anh) trong giao tiếp hàng ngày, biển hiệu, hoặc trong các chương trình truyền hình thay vì dùng từ ngữ tiếng Việt tương đương.
Lí lẽ 2: Việc sử dụng tiếng Việt đúng cách không hề làm giảm đi sự hiện đại hay hội nhập.
Bằng chứng 2: Những ví dụ về sự kết hợp "kệch cỡm" giữa tiếng Việt và tiếng Anh, hoặc việc dùng từ ngoại ngữ khi không cần thiết, làm mất đi sự trong sáng, tinh tế của ngôn ngữ dân tộc.
Lí lẽ 3: Sự cần thiết phải ý thức được "chữ ta" - tình yêu và trách nhiệm với tiếng mẹ đẻ.
Bằng chứng 3: Các phân tích về cách dùng từ ngữ trong các bối cảnh cụ thể, cho thấy sự khác biệt giữa việc hội nhập ngôn ngữ có văn hóa và việc "sính ngoại" vô tội vạ. 
Câu 4:

  • Thông tin khách quan: Hiện nay, trên các biển hiệu, quảng cáo, và trong giao tiếp hàng ngày, tiếng nước ngoài (đặc biệt là tiếng Anh) được sử dụng phổ biến, đôi khi thay thế hoặc lấn át tiếng Việt.
  • Ý kiến chủ quan: Tác giả cho rằng việc lạm dụng này là thiếu tôn trọng tiếng mẹ đẻ, thể hiện sự "sính ngoại" không cần thiết và cần phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt trước nguy cơ bị lai căng. 
    Câu 5: Cách lập luận kết hợp lí lẽ xác thực và bằng chứng thực tế , sử dụng phương phép diễn dịch và quan hệ điều kiện - kết quả , giúp quan điểm trở nên thuyết phục , tự nhiên


a) A= \(\dfrac{3x+15}{\left(x-3\right)\left(x+3\right)}\)+\(\dfrac{1}{x+3}\)-\(\dfrac{2}{x-3}\)

       =\(\dfrac{3x+15}{\left(x-3\right)\left(x+3\right)}\)+\(\dfrac{1\left(x-3\right)}{\left(x-3\right)\left(x+3\right)}\)-\(\dfrac{2\left(x+3\right)}{\left(x-3\right)\left(x+3\right)}\)

        =\(\dfrac{3x+15+x-3-2x-6}{\left(x-3\right)\left(x+3\right)}\)

        =\(\dfrac{2x+6}{\left(x-3\right)\left(x+3\right)}\)=\(\dfrac{2\left(x+3\right)}{\left(x-3\right)\left(x+3\right)}\)=\(\dfrac{2}{x-3}\)

b) Để A=\(\dfrac{2}{3}\) thì \(\dfrac{2}{x-3}\)=\(\dfrac{2}{3}\)

Suy ra 3(x - 3) = 2.3 

            3x - 9   = 6 

             3x        = 15

                x        = 5    Vậy để A=\(\dfrac{2}{3}\) thì x = 5