Ngô Thảo Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ngô Thảo Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Từ năm 1991 đến nay, tình hình kinh tế – xã hội của Nhật Bản có nhiều biến động và chuyển biến quan trọng.

Về kinh tế, từ đầu những năm 1990, sau khi “bong bóng kinh tế” tan vỡ, Nhật Bản rơi vào thời kì suy thoái kéo dài, được gọi là “thập niên mất mát”. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, nợ công tăng cao, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn. Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn là một trong những cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới với nền công nghiệp hiện đại, trình độ khoa học – kĩ thuật tiên tiến và năng suất lao động cao. Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách kinh tế, thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển các ngành công nghệ cao như điện tử, rô-bốt, ô tô, trí tuệ nhân tạo.

Về xã hội, đời sống người dân nhìn chung có mức sống cao, hệ thống giáo dục và y tế phát triển. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng đối mặt với nhiều vấn đề như già hóa dân số, tỉ lệ sinh thấp, thiếu lao động trẻ và áp lực an sinh xã hội ngày càng lớn. Bên cạnh đó, thiên tai như động đất, sóng thần cũng gây nhiều thiệt hại nặng nề.

Nhìn chung, từ năm 1991 đến nay, Nhật Bản vừa phải vượt qua nhiều khó khăn kinh tế – xã hội, vừa tiếp tục giữ vững vị thế là một quốc gia phát triển hàng đầu thế giớ

Cộng đồng ASEAN ra đời như thế nào?

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 tại Bangkok (Thái Lan) với 5 nước sáng lập là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan.

Sau quá trình mở rộng thành viên, đến năm 1999, cả 10 quốc gia Đông Nam Á đều tham gia ASEAN. Trên cơ sở đó, ASEAN hướng tới xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN chính thức được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới của ASEAN từ một tổ chức hợp tác khu vực trở thành một cộng đồng liên kết chặt chẽ hơn.

Những nét chính của Cộng đồng ASEAN

Cộng đồng ASEAN được xây dựng trên 3 trụ cột chính:

1. Cộng đồng Chính trị – An ninh ASEAN (APSC)

  • Nhằm bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định trong khu vực.
  • Tăng cường hợp tác giải quyết các vấn đề an ninh, giữ gìn môi trường hòa bình để phát triển.

2. Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

  • Mục tiêu xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất chung.
  • Tăng cường liên kết kinh tế, thúc đẩy thương mại, đầu tư, phát triển kinh tế giữa các nước thành viên.

3. Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCC)

  • Hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
  • Tăng cường hợp tác về giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, phúc lợi xã hội.

Câu 1 (2,0 điểm)

Giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc là trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn dân tộc, chứa đựng truyền thống văn hóa, lịch sử và bản sắc của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều bạn trẻ sử dụng ngôn ngữ thiếu chuẩn mực như nói tục, viết sai chính tả, lạm dụng tiếng nước ngoài hoặc ngôn ngữ mạng một cách tùy tiện. Điều đó làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tiếng Việt. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước hết là sử dụng đúng chuẩn mực về phát âm, từ ngữ, ngữ pháp; nói và viết rõ ràng, lịch sự, phù hợp hoàn cảnh giao tiếp. Bên cạnh đó, cần biết trân trọng vẻ đẹp giàu hình ảnh, giàu cảm xúc của tiếng mẹ đẻ qua ca dao, tục ngữ, văn học dân gian và văn học hiện đại. Mỗi học sinh cần rèn luyện ý thức dùng tiếng Việt đúng và hay trong học tập cũng như cuộc sống hằng ngày. Giữ gìn tiếng Việt chính là giữ gìn cội nguồn dân tộc và thể hiện lòng yêu nước của mỗi con người.

Câu 2 (4,0 điểm)Bài thơ “Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân” của Phạm Văn Tình là lời ngợi ca tha thiết về vẻ đẹp, sức sống và giá trị bền vững của tiếng Việt. Qua đó, tác giả thể hiện niềm tự hào sâu sắc đối với tiếng mẹ đẻ – một phần thiêng liêng của hồn dân tộc.

Mở đầu bài thơ, tác giả khẳng định tiếng Việt đã có từ rất lâu đời, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Những hình ảnh như “Cổ Loa”, “mũi tên thần”, “hồn Lạc Việt” gợi nhắc về cội nguồn dân tộc, về truyền thống anh hùng của cha ông. Tiếng Việt không chỉ là ngôn ngữ giao tiếp mà còn là chứng nhân lịch sử, đồng hành cùng dân tộc qua bao thăng trầm.

Tiếp đó, tiếng Việt hiện lên gắn bó với những giá trị văn hóa, văn học lớn lao của dân tộc. Tác giả nhắc đến “Bài Hịch”, “nàng Kiều”, “Lời Bác truyền” như những biểu tượng tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, lòng nhân ái và ý chí vươn lên. Tiếng Việt đã lưu giữ những giá trị tinh thần quý báu ấy qua nhiều thế hệ.

Không chỉ mang tầm vóc lịch sử, tiếng Việt còn rất gần gũi, thân thương trong đời sống hằng ngày. Đó là “tiếng mẹ”, là lời trẻ thơ bập bẹ, là lời ru của bà, là câu hát dân ca ngọt ngào. Những hình ảnh giản dị mà xúc động ấy cho thấy tiếng Việt chính là hơi thở cuộc sống, nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thuở ấu thơ.

Ở khổ cuối, tác giả khẳng định tiếng Việt hôm nay vẫn đầy sức sống, luôn đổi mới mà vẫn giữ được cội nguồn truyền thống. Hình ảnh “bánh chưng xanh”, “chim Lạc”, “nảy lộc đâm chồi” vừa mang ý nghĩa biểu tượng vừa gợi sự tiếp nối, phát triển bền vững của dân tộc và ngôn ngữ dân tộc. Tiếng Việt như trẻ lại trước mùa xuân – tươi mới, giàu sức sống và tràn đầy hi vọng.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với giọng điệu tha thiết, giàu cảm xúc. Nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng, kết hợp giữa yếu tố lịch sử và đời sống thường nhật đã làm nổi bật vẻ đẹp của tiếng Việt. Biện pháp điệp từ “tiếng Việt”, hình ảnh so sánh, ẩn dụ góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ.

Bài thơ là lời nhắn nhủ sâu sắc về tình yêu tiếng mẹ đẻ. Qua đó, mỗi người càng thêm tự hào, trân trọng và có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt – tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam.

Câu 1 (2,0 điểm)

Giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc là trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn dân tộc, chứa đựng truyền thống văn hóa, lịch sử và bản sắc của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay nhiều bạn trẻ sử dụng ngôn ngữ thiếu chuẩn mực như nói tục, viết sai chính tả, lạm dụng tiếng nước ngoài hoặc ngôn ngữ mạng một cách tùy tiện. Điều đó làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tiếng Việt. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước hết là sử dụng đúng chuẩn mực về phát âm, từ ngữ, ngữ pháp; nói và viết rõ ràng, lịch sự, phù hợp hoàn cảnh giao tiếp. Bên cạnh đó, cần biết trân trọng vẻ đẹp giàu hình ảnh, giàu cảm xúc của tiếng mẹ đẻ qua ca dao, tục ngữ, văn học dân gian và văn học hiện đại. Mỗi học sinh cần rèn luyện ý thức dùng tiếng Việt đúng và hay trong học tập cũng như cuộc sống hằng ngày. Giữ gìn tiếng Việt chính là giữ gìn cội nguồn dân tộc và thể hiện lòng yêu nước của mỗi con người.

Câu 2 (4,0 điểm)Bài thơ “Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân” của Phạm Văn Tình là lời ngợi ca tha thiết về vẻ đẹp, sức sống và giá trị bền vững của tiếng Việt. Qua đó, tác giả thể hiện niềm tự hào sâu sắc đối với tiếng mẹ đẻ – một phần thiêng liêng của hồn dân tộc.

Mở đầu bài thơ, tác giả khẳng định tiếng Việt đã có từ rất lâu đời, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Những hình ảnh như “Cổ Loa”, “mũi tên thần”, “hồn Lạc Việt” gợi nhắc về cội nguồn dân tộc, về truyền thống anh hùng của cha ông. Tiếng Việt không chỉ là ngôn ngữ giao tiếp mà còn là chứng nhân lịch sử, đồng hành cùng dân tộc qua bao thăng trầm.

Tiếp đó, tiếng Việt hiện lên gắn bó với những giá trị văn hóa, văn học lớn lao của dân tộc. Tác giả nhắc đến “Bài Hịch”, “nàng Kiều”, “Lời Bác truyền” như những biểu tượng tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, lòng nhân ái và ý chí vươn lên. Tiếng Việt đã lưu giữ những giá trị tinh thần quý báu ấy qua nhiều thế hệ.

Không chỉ mang tầm vóc lịch sử, tiếng Việt còn rất gần gũi, thân thương trong đời sống hằng ngày. Đó là “tiếng mẹ”, là lời trẻ thơ bập bẹ, là lời ru của bà, là câu hát dân ca ngọt ngào. Những hình ảnh giản dị mà xúc động ấy cho thấy tiếng Việt chính là hơi thở cuộc sống, nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thuở ấu thơ.

Ở khổ cuối, tác giả khẳng định tiếng Việt hôm nay vẫn đầy sức sống, luôn đổi mới mà vẫn giữ được cội nguồn truyền thống. Hình ảnh “bánh chưng xanh”, “chim Lạc”, “nảy lộc đâm chồi” vừa mang ý nghĩa biểu tượng vừa gợi sự tiếp nối, phát triển bền vững của dân tộc và ngôn ngữ dân tộc. Tiếng Việt như trẻ lại trước mùa xuân – tươi mới, giàu sức sống và tràn đầy hi vọng.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với giọng điệu tha thiết, giàu cảm xúc. Nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng, kết hợp giữa yếu tố lịch sử và đời sống thường nhật đã làm nổi bật vẻ đẹp của tiếng Việt. Biện pháp điệp từ “tiếng Việt”, hình ảnh so sánh, ẩn dụ góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ.

Bài thơ là lời nhắn nhủ sâu sắc về tình yêu tiếng mẹ đẻ. Qua đó, mỗi người càng thêm tự hào, trân trọng và có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt – tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam.

  • a) Xét tam giác ΔABCΔABC và ΔHBAΔHBA:

    • ΔABCΔABC vuông tại AA, ΔHBAΔHBA vuông tại HH.

    • Góc BB là góc chung

    • Do đó, ΔABC∼ΔHBAΔABC ∼ ΔHBA theo trường hợp góc - góc

    • theo định lý đường cao trong tam giác vuông: AB = BC.

    • b) Xét ΔEHBΔEHB và ΔEABΔEAB, có:
    • Tỉ số các cạnh tương ứng với đường cao:∠EHB=∠EAB∠EHB = ∠EAB (góc đối đỉnh).
    • EHEB=EAEI
    • EI.EB=EH.EA\frac{EH}{EB} = \frac{EA}{EI}

       

để A = 2/3 thì 2/ x-3 = 2/3

 

=đx−3=3x3=3

x=6x=6 (thỏa mãn điều kiện).

Vậy x=6x=6 thì A=23A=2/3