Đào Lê Hồng Hạnh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đào Lê Hồng Hạnh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 . Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa lao động và ước mơ. 

Giữa dòng đời hối hả, nếu ước mơ là kim chỉ nam định vị hướng đi thì lao động chính là đôi chân giúp ta bước tới đích. Có thể nói, mối quan hệ giữa ước mơ và lao động vô cùng mật thiết: ước mơ nâng tầm giá trị lao động, còn lao động chính là hình thái tồn tại thực tế của ước mơ. Ước mơ là những mục tiêu tốt đẹp ta khao khát, lao động là hoạt động có mục đích để tạo ra giá trị. Một ước mơ thiếu đi sự dấn thân sẽ chỉ mãi là " lâu đài trên cát ", ngược lại, lao động không mục đích sẽ trở nên máy móc và dễ gục ngã. Hãy nhìn vào kĩ sư huyền thoại Soichiro Honda- người sáng lập đế chế Honda. Chính những chuối ngày bán mình trong xưởng máy, chấp nhận đôi bàn tay lấm lem và hàng ngàn lần thất bại đã hiện thực hóa giấc mơ của ông. Tuy nhiên, thật đáng phê phán một bộ phận người hiện nay đang rơi vào lối sống " ngại khó ", chỉ thích hưởng thụ nhưng lười cống hiến. Để khắc phục điều đó, mỗi chúng ta cần rèn luyện tinh thần kỉ luật, bắt đầu từ những điều nhỏ nhất và thực hiện chúng kiên trì mỗi ngày. Đồng thời không ngừng trau dồi tri thức và kĩ năng lao động một cách thông minh và hiệu quả. Tóm lại, lao động và ước mơ có mối quan hệ vô cùng mật thiết, đừng chỉ đứng yên và mơ mộng về những phép màu. Hãy cầm lấy "chiếc xẻng" của sự cần cù để đào sâu vào mảnh đất thực tại, bởi chỉ có lao động bằng cả trái tim, ta mới kiến tạo nên kì tích cho cuộc đời mình.

Câu 2 . Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ "Nhớ" của Nguyễn Đình Thi. 

Bài làm

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Đình Thi được biết đến là một nghệ sĩ đa tài, người đã để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều lĩnh vực từ âm nhạc, triết học đến văn học. Thơ ông mang một phong cách riêng biệt, tự do, phóng khoáng, giàu chất suy tư nhưng cũng đầy rẫy những xúc cảm nồng nàn, tinh tế. Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất cho hồn thơ ấy chính là bài thơ "Nhớ", sáng tác năm 1946 tại chiến khu Việt Bắc. Bài thơ không chỉ là một bản tình ca về nỗi nhớ da diết của tình yêu đôi lứa mà còn là tiếng lòng của người chiến sĩ cách mạng khi tình cảm cá nhân hòa quyện chặt chẽ với lí tưởng Tổ quốc. Qua đó, nhân vật trữ tình là người chiến sĩ hiện lên với vẻ đẹp tâm hồn vừa lãng mạn, vừa kiêu hãnh.

Mở đầu bài thơ, tâm trạng của nhân vật trữ tình được đặt trong không gian núi rừng chiến khu đêm khuya đầy tĩnh lặng nhưng cũng đầy ắp nỗi lòng. Nhà thơ đã khéo léo sử dụng biện pháp nhân hóa để gửi gắm tâm sự:

"Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh

Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây

Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh

Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây"

Nỗi nhớ ở đây đã được cụ thể hóa qua hình ảnh "ngôi sao" và "ngọn lửa". Ngôi sao lấp lánh như đôi mắt người thương đang dõi theo từng bước hành quân, ngọn lửa hồng sưởi ấm lòng người lính giữa cái lạnh của "ngàn cây". Điệp ngữ "nhớ ai" vang lên như một câu hỏi tu từ đầy ám ảnh, cho thấy nỗi nhớ đã bao trùm lấy cả không gian và thời gian, biến những vật vô tri thành những người bạn đồng hành cùng sẻ chia tâm trạng với người chiến sĩ.

Sự gắn kết giữa tình yêu cá nhân và tình yêu đất nước. Điểm cốt lõi trong tâm trạng nhân vật trữ tình chính là một cái nhìn mới mẻ về tình yêu: không hề tách rời mà hòa làm một với vận mệnh dân tộc. Tác giả khẳng định:

"Anh yêu em như anh yêu đất nước

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần

Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn"

Đây là một sự so sánh táo bạo. Tình yêu dành cho "em" là động lực, là điểm tựa để "anh" yêu thêm mảnh đất quê hương đang trong cảnh "vất vả đau thương". Nỗi nhớ không chỉ xuất hiện trong những khoảnh khắc mơ mộng mà hiện hữu trong từng nhịp sinh hoạt đời thường: "Mỗi bước đường anh bước / Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn". Từ "mỗi" lặp đi lặp lại nhấn mạnh rằng nỗi nhớ đã trở thành một phần máu thịt, một bản năng tồn tại tiếp thêm sức mạnh cho người lính trên con đường kháng chiến gian khổ.

Ở những khổ thơ cuối, tâm trạng nhân vật trữ tình chuyển từ nỗi nhớ da diết sang sự khẳng định lý tưởng vững vàng, niềm kiêu hãnh và lý tưởng chiến đấu:

"Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt

Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời

Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người."

Hình ảnh "ngôi sao không bao giờ tắt" biểu tượng cho niềm tin bất diệt vào tương lai và tình yêu bền chặt. Nhân vật trữ tình không hề bi lụy, nỗi nhớ ấy trở thành chất xúc tác để "chiến đấu suốt đời". Câu kết "Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người" vang lên đầy dõng dạc, thể hiện vẻ đẹp của một thế hệ cầm súng: yêu để sống tốt hơn, để xứng đáng với nhân phẩm và tự do của dân tộc.

Góp phần làm nên sức hấp dẫn và sự thành công của bài thơ "Nhớ" không thể không kể đến những đặc sắc về mặt nghệ thuật. Tác giả đã lựa chọn thể thơ 8 chữ với nhịp điệu phóng khoáng, uyển chuyển, rất phù hợp để diễn tả mạch cảm xúc miên man, lúc dạt dào, lúc lắng đọng của nhân vật trữ tình. Ngôn ngữ thơ giản dị, chân thực, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng lại mang sức gợi cảm lớn. Hình ảnh thơ vừa mang tính thực (như "đèo mây", "ngàn cây"...), vừa mang tính biểu tượng sâu sắc (như "ngôi sao không bao giờ tắt", "ngọn lửa hồng"). Sự đan xen giữa thực và ảo tạo nên một không gian nghệ thuật vừa thân thuộc lại vừa thiêng liêng. Nổi bật trong bài thơ là việc sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ như nhân hóa ("Ngôi sao nhớ ai", "Ngọn lửa nhớ ai"), so sánh độc đáo ("Anh yêu em như anh yêu đất nước"), nhấn mạnh tầm quan trọng của cả tình yêu đôi lứa và lý tưởng chung.

Để làm rõ hơn nét riêng của Nguyễn Đình Thi, ta có thể liên hệ với "Tây Tiến" của Quang Dũng. Cả hai nhân vật trữ tình đều mang vẻ đẹp hào hoa của tầng lớp trí thức đi kháng chiến, đều gửi mộng ước về "dáng kiều thơm" nơi hậu phương. Tuy nhiên, nếu nỗi nhớ trong "Tây Tiến" mang màu sắc lãng mạn cổ điển, có chút bi tráng của thời đại: "Mắt trừng gửi mộng qua biên giới", thì nỗi nhớ trong bài thơ của Nguyễn Đình Thi lại được hiện đại hóa và đời thường hóa. Nó không chỉ là mộng tưởng lúc đêm về mà gắn liền với thực tế chiến đấu "vất vả đau thương". Nguyễn Đình Thi đã vượt lên trên nỗi nhớ thuần túy để xác lập một thái độ sống: yêu là để "kiêu hãnh làm người", biến tình cảm cá nhân thành hành động cách mạng cụ thể.

Bài thơ "Nhớ" của Nguyễn Đình Thi đã khắc họa một chân dung tâm hồn đẹp đẽ của nhân vật trữ tình. Đó là một trái tim tràn ngập tình yêu đôi lứa nhưng luôn đặt tình cảm ấy trong tình yêu lớn dành cho Tổ quốc. Với phong cách thơ hiện đại, phóng khoáng, tác phẩm đã vượt qua thử thách của thời gian để trở thành một trong những bài thơ tình hay nhất của văn học kháng chiến, khẳng định sức mạnh của niềm tin và khát vọng sống chân chính của con người Việt Nam.

1. Phương thức biểu đạt chính: nghị luận

2. Văn bản trên bàn về vấn đề: vai trò và ý nghĩa của lao động đối với sự tồn tại của muôn loài và hạnh phúc của con người

3. Tác giả đã sử dụng các bằng chứng:

+ Ngay cả chú chim yến, khi còn non thì được bố mẹ mang mồi về mớm cho nhưng khi lớn lên sẽ phải tự mình đi kiếm mồi.

+ Hổ và sư tử cũng đều như vậy.

- Nhận xét: các bằng chứng nhấn mạnh cho luận điểm về tính tất yếu của lao động trong tự nhiên và tạo sự gần gũi, thực tế, khách quan, giúp người đọc dễ hình dung.

4. Câu trên gợi cho em suy nghĩ rằng: Nếu con người hiểu được ý nghĩa của lao động; coi lao động là cống hiến, vun đắp, là khám phá cuộc sống thì người đó sẽ hạnh phúc, ngay cả khi họ phải lao động vất vả, cực nhọc. Ngược lại, nếu con người không nhận ra ý nghĩa của lao động, coi lao động là nô dịch, khổ sai, là ép buộc thì người đó sẽ luôn cảm thấy bất hạnh và mệt mõi dù công việc của họ không quá nhọc nhằn. Vì vậy, chúng ta cần có nhận thức và thái độ đúng đắn về lao động.

5. Biếu hiện cho thấy hiện nay trong cuộc sống vẫn có người chưa nhận thúc đúng đắn về ý nghĩa của lao động là lối sống "nhàn cư vi bất thiện", lười biếng, chỉ muốn hưởng thụ mà không muốn làm việc. Tâm lí chọn việc nhẹ nhàng, coi thường những lao động chân tay hoặc những việc có thu nhập thấp mà không thấy được giá trị đóng góp cho xã hội. Tình trạng ỷ lại, dựa dẫm vào cha mẹ, gia đình thay vì tự mình lao động để khẳng định giá trị bản thân.