Nguyễn Thùy Phương
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Đoạn thơ trong “Bài thơ chưa thể đặt tên” của Nguyễn Phan Quế Mai gợi lên những cảm xúc sâu sắc về giá trị của hạt gạo và cội nguồn gia đình. Hình ảnh “nâng bát cơm trên tay, tôi đếm từng hạt gạo” thể hiện sự trân trọng đối với thành quả lao động. Mỗi hạt gạo không chỉ là lương thực nuôi sống con người mà còn “óng ánh mồ hôi của những tổ tiên”, kết tinh bao nhọc nhằn, vất vả của cha ông qua nhiều thế hệ. Đặc biệt, hạt gạo còn mang hơi ấm tình thân qua “lời ru của bà tôi”, gợi nhớ những ký ức êm đềm, thiêng liêng. Hình ảnh “trong hoàng hôn lời ru bà tôi vẫn se sẽ trổ đòng” vừa giàu chất thơ, vừa thể hiện sự tiếp nối của truyền thống. Qua đó, đoạn thơ nhắc nhở mỗi người cần biết trân quý những điều bình dị, biết ơn quá khứ và gìn giữ những giá trị tốt đẹp của gia đình, quê hương.
Câu2:
Trong cuộc sống luôn biến đổi không ngừng, khả năng thích ứng trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của mỗi người, đặc biệt là tuổi trẻ. Quan điểm “tuổi trẻ cần phải thích ứng trong mọi hoàn cảnh” cũng là thông điệp mà Max McKeown gửi gắm qua cuốn sách Adaptability.
Thích ứng là khả năng điều chỉnh bản thân để phù hợp với hoàn cảnh, biết thay đổi cách suy nghĩ và hành động trước những biến động của cuộc sống. Đối với người trẻ – những người đang trên hành trình học tập, lập nghiệp – việc thích ứng càng trở nên cần thiết. Cuộc sống hiện đại với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, xã hội luôn đặt ra những yêu cầu mới. Nếu không biết thay đổi, con người dễ bị tụt lại phía sau.
Thực tế cho thấy, những người trẻ thành công thường là những người linh hoạt, dám thay đổi và không ngại thử thách. Khi gặp khó khăn trong học tập hay công việc, họ không bỏ cuộc mà tìm cách thích nghi, học hỏi cái mới. Chẳng hạn, trong thời đại công nghệ số, nhiều bạn trẻ đã nhanh chóng tiếp cận kỹ năng số, học online, làm việc từ xa để phù hợp với hoàn cảnh. Ngược lại, những người bảo thủ, ngại thay đổi thường khó phát triển và dễ thất bại.
Tuy nhiên, thích ứng không có nghĩa là đánh mất bản thân hay chạy theo hoàn cảnh một cách mù quáng. Người trẻ cần giữ vững giá trị cốt lõi, đạo đức và mục tiêu sống của mình. Thích ứng là sự linh hoạt có định hướng, biết thay đổi để tốt hơn chứ không phải thay đổi vô nguyên tắc.
Để rèn luyện khả năng thích ứng, mỗi người trẻ cần chủ động học hỏi, nâng cao kỹ năng, mở rộng tư duy và sẵn sàng đối mặt với thử thách. Đồng thời, cần rèn luyện bản lĩnh, sự kiên trì và tinh thần cầu tiến.
Tóm lại, trong một thế giới luôn vận động, thích ứng là chìa khóa giúp tuổi trẻ phát triển và thành công. Biết thay đổi đúng lúc, đúng cách sẽ giúp mỗi người vượt qua khó khăn, nắm bắt cơ hội và khẳng định giá trị của bản thân trong xã hội.
Câu 1
Dấu hiệu xác định thể thơ:
- Số chữ của các dòng không bằng nhau, không cố định về niêm, luật.
- Là dấu hiệu đế xác định thế thơ tự do của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm)
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3. (1,0 điểm)
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê:
- Nêu biếu hiện: Liệt kê/nêu/kế ra những điều nhân vật tôi "nghe trong khói hương": hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trổ đòng.
- Tác dụng:
+ Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà.
Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 1:
Chủ quyền quốc gia là tài sản thiêng liêng nhất mà cha ông đã đánh đổi bằng xương máu để gìn giữ. Đối với thế hệ trẻ ngày nay, ý thức bảo vệ chủ quyền không chỉ là trách nhiệm mà còn là thước đo giá trị đạo đức và lòng tự trọng dân tộc. Tầm quan trọng của ý thức này thể hiện ở việc nó tạo nên sức mạnh nội lực to lớn, giúp đất nước đứng vững trước những biến động phức tạp của tình hình địa chính trị thế giới. Khi mỗi người trẻ có nhận thức đúng đắn, họ sẽ trở thành những "cột mốc sống" khẳng định chủ quyền trên mọi mặt trận: từ không gian mạng đến hội nhập kinh tế quốc tế. Hơn nữa, ý thức này giúp thanh niên sống có lý tưởng, thôi thúc họ học tập và rèn luyện để xây dựng đất nước giàu mạnh – bởi một quốc gia cường thịnh chính là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ chủ quyền. Đừng chỉ yêu nước bằng lời nói, hãy thể hiện bằng hành động thiết thực, tỉnh táo trước các thông tin sai lệch và sẵn sàng cống hiến để màu xanh của độc lập, tự do mãi mãi trường tồn trên bản đồ thế giới.
câu 2:
Trong thơ ca kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh Trường Sơn không chỉ là không gian địa lí mà còn là biểu tượng của ý chí dân tộc và vẻ đẹp con người Việt Nam. Hai tác phẩm “Tổ quốc ở Trường Sơn” và “Màu xanh của Trường Sơn” đều khai thác đề tài này nhưng mỗi bài lại mang một sắc thái riêng, góp phần làm phong phú giá trị nội dung về Trường Sơn trong văn học.
Trước hết, “Tổ quốc ở Trường Sơn” tập trung làm nổi bật hình ảnh Tổ quốc hiện hữu ngay trên tuyến đường chiến lược. Qua đó, Trường Sơn không chỉ là nơi chiến đấu mà còn là nơi hội tụ tình yêu nước sâu sắc. Hình ảnh người lính hiện lên với tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì độc lập dân tộc. Tổ quốc trong bài thơ không phải là khái niệm trừu tượng mà trở nên gần gũi, cụ thể: có trong từng bước chân hành quân, trong gian khổ, thiếu thốn, trong ý chí vượt lên bom đạn. Giá trị nội dung nổi bật của tác phẩm là khẳng định tinh thần yêu nước và lí tưởng sống cao đẹp của con người Việt Nam thời chiến.
Trong khi đó, “Màu xanh của Trường Sơn” lại khai thác Trường Sơn ở một góc nhìn giàu chất trữ tình hơn. “Màu xanh” ở đây không chỉ là màu của núi rừng mà còn là biểu tượng của sức sống, của hi vọng và tuổi trẻ. Bài thơ gợi lên vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, tươi mát, đồng thời phản ánh tinh thần lạc quan của những con người nơi tuyến lửa. Dù chiến tranh khốc liệt, màu xanh vẫn hiện diện như một niềm tin vào ngày mai. Giá trị nội dung của bài thơ vì thế nghiêng về việc ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên hòa quyện với vẻ đẹp tâm hồn con người, tạo nên một Trường Sơn vừa khốc liệt vừa thơ mộng.
So sánh hai tác phẩm, có thể thấy điểm gặp gỡ của chúng là cùng ca ngợi Trường Sơn như một biểu tượng lớn của dân tộc trong kháng chiến. Cả hai đều khắc họa hình ảnh con người Việt Nam kiên cường, giàu lí tưởng và tràn đầy niềm tin. Tuy nhiên, nếu “Tổ quốc ở Trường Sơn” nhấn mạnh yếu tố chính trị – tư tưởng, làm nổi bật ý nghĩa thiêng liêng của Tổ quốc trong chiến đấu, thì “Màu xanh của Trường Sơn” lại thiên về cảm xúc, làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên và đời sống tinh thần lạc quan. Một bên mang âm hưởng hào hùng, trang trọng; bên kia nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn đầy sức sống.
Sự khác biệt này không làm giảm đi giá trị của mỗi tác phẩm mà ngược lại, bổ sung cho nhau để tạo nên cái nhìn toàn diện hơn về Trường Sơn. Qua đó, người đọc không chỉ cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh mà còn thấy được vẻ đẹp bền bỉ của thiên nhiên và con người Việt Nam.
Tóm lại, cả hai bài thơ đều có giá trị nội dung sâu sắc, góp phần khắc họa hình tượng Trường Sơn vừa là tuyến lửa anh hùng, vừa là không gian của sự sống và hi vọng. Sự kết hợp giữa chất sử thi và chất trữ tình trong hai tác phẩm đã giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc.
Câu 1 (0,5 điểm).
Đoạn trích được viết theo thể thơ tám chữ.
Câu 2 (0,5 điểm).
Một số từ ngữ từ ngữ tiêu biếu thế hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước: biển, sóng dữ, Hoàng Sa, Tổ quốc, màu cờ nước Việt, ngư dân,...
Câu 3 (1,0 điểm).
biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ
Mẹ Tổ quốc vân luôn ở bên ta
Như máu ấm trong màu cờ nước Việt
tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
+ Giúp tăng tính sinh động, gợi hình cho sự diễn đạt.
+ Khăng định sự gắn bó của Tố quốc đối với mỗi người dân Việt Nam.
+ Cho thấy tình yêu nồng nàn dành cho Tổ quốc của tác giả.
Câu 4 (1,0 điểm).
Nhà thơ thế hiện những tình cảm sau:
- Niềm tự hào đối với lịch sử dân tộc.
- Lòng biết ơn đối với những người lính và ngư dân bám biển
- Câu 5 (1,0 điểm)
- Em đặc biệt ấn tượng với hình ảnh đất nước được "Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ" ở đầu đoạn trích. Hình ảnh này mang tính khái quát cao về lịch sử dựng nước và giữ nước đầy gian khố nhưng cũng rất hào hùng của dân tộc Việt Nam, là minh chứng cho tinh thần quyết tử, sắn sàng hi sinh tính mạng của vạn người con để đổi lấy sự trường tồn của Tổ quốc. Hình ảnh thơ đã truyền cho em ngọn lửa yêu nước và niềm xúc động trước những đóng góp thầm lặng của các bậc cha anh.
Câu 1 (0,5 điểm).
Văn bản được viết theo thế thơ tự do.
Câu 2 (0,5 điểm).
Một hình ảnh thơ mang tính biếu tượng cho cuộc sống làng biển: "làng là mảnh lưới trăm năm" hoặc "những cánh buồm quê" hay "những mái nhà hình mắt lưới"
Câu 3 (1,0 điểm).
Hình ảnh "mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển" gợi:
- Sự chờ đợi mỏi mòn, đầy lo âu của người mẹ có chồng, con bám biến và nồi vất vả, hi sinh thầm lặng của người phụ nữ làng chài.
- Ngoài ra, hình ảnh còn thể hiện nỗi đau, nỗi thương và tình cảm sâu nặng của tác giả đối với con người quê biến.
- Cuối cùng, hình ảnh góp phần làm nổi bật chủ đề bài thơ: Cuộc sống nhọc nhằn nhưng giàu tình yêu quê hương.
Câu 4 (1,0 điểm).
"Làng là mảnh lưới trăm năm" gợi cuộc sống làng chài gắn bó bền chặt với biển qua nhiều thế hệ và truyền thống lao động biến được cha ông gìn giữ, nối tiếp. Con người trong làng gắn bó, đùm bọc nhau như những mắt lưới và thể hiện chiều sâu lịch sử và bản sắc riêng của làng biển.
câu 5:
+ Con người làng biến hiện lên với sự bên bỉ, nhẫn nại trước sóng gió thiên nhiên.
+ Lao động vất vả giúp họ tạo dựng cuộc sống và nuôi dưỡng niềm hi vọng.
+ Lao động bền bỉ góp phần hình thành giá trị sống chân chính của con người.
+ Trong cuộc sống hôm nay, mối người cần kiên trì, nô lực trong học tập và công việc.
Chính sự nhẫn nại, không bỏ cuộc giúp con người vượt qua khó khăn và khẳng định ý nghĩa cuộc đời mình.
Câu 1:
Giữ gìn bản sắc quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, giới trẻ có nhiều cơ hội tiếp cận với những nền văn hóa mới, hiện đại. Tuy nhiên, nếu không biết trân trọng và bảo tồn những giá trị truyền thống, chúng ta dễ đánh mất cội nguồn của mình. Bản sắc quê hương không chỉ là phong tục, tập quán, mà còn là tiếng nói, ẩm thực, lối sống và những giá trị tinh thần tốt đẹp được truyền từ đời này sang đời khác. Việc gìn giữ bản sắc giúp mỗi người hiểu rõ mình là ai, từ đâu mà có, từ đó hình thành lòng tự hào và ý thức trách nhiệm với quê hương, đất nước. Thế hệ trẻ cần chủ động học hỏi, tìm hiểu văn hóa dân tộc, đồng thời biết chọn lọc những yếu tố mới để phát triển bản thân mà không làm mai một truyền thống. Giữ gìn bản sắc không phải là bảo thủ, mà là biết kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống hiện đại.
Câu 2 :
Văn bản ở phần Đọc hiểu và bài thơ “Về làng” của Đỗ Viết Tuyển đều thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc với quê hương, nhưng mỗi tác phẩm lại có cách thể hiện và giá trị nội dung riêng biệt, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của tình yêu quê hương trong tâm hồn con người.
Trước hết, điểm gặp gỡ của hai văn bản là cùng khơi gợi nỗi nhớ và tình yêu tha thiết đối với quê hương. Trong bài thơ “Về làng”, hình ảnh quê hiện lên mộc mạc, thân thuộc qua những chi tiết như “con đê đầu làng”, “cánh đồng ngang”, “khói bếp lam chiều”, “cánh diều tuổi thơ”. Đó là những hình ảnh bình dị nhưng giàu sức gợi, gắn liền với ký ức tuổi thơ của mỗi con người. Nỗi nhớ quê không chỉ là nhớ cảnh mà còn là nhớ người, nhớ những giá trị văn hóa truyền thống như “hát chèo”. Tương tự, văn bản ở phần Đọc hiểu cũng nhấn mạnh vai trò của quê hương trong đời sống tinh thần, coi đó là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách con người.
Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại có cách thể hiện riêng. Nếu văn bản Đọc hiểu thiên về lý giải, phân tích ý nghĩa của quê hương và việc giữ gìn bản sắc, thì bài thơ “Về làng” lại giàu cảm xúc, mang tính trữ tình sâu sắc. Tác giả không nói trực tiếp mà gợi qua hình ảnh, qua nhịp điệu thơ nhẹ nhàng, da diết. Đặc biệt, câu thơ “Tôi đi từ độ đến giờ / Tóc xanh đã bạc mà chưa tới làng” thể hiện nỗi niềm day dứt, xa xót của con người xa quê lâu ngày, mong mỏi được trở về nhưng dường như hành trình ấy trở nên xa vời. Đây không chỉ là khoảng cách địa lý mà còn là khoảng cách của thời gian và ký ức.
Bên cạnh đó, bài thơ còn gợi lên sự thay đổi của quê hương và nỗi lo về sự mai một của những giá trị truyền thống. Câu hỏi “Người xưa giờ có còn sang hát chèo” như một sự tiếc nuối trước những nét văn hóa có nguy cơ biến mất. Điều này tạo nên chiều sâu suy tư cho tác phẩm, khiến người đọc không chỉ cảm nhận được nỗi nhớ mà còn nhận ra trách nhiệm giữ gìn những giá trị quê hương.
So với bài thơ, văn bản Đọc hiểu mang tính khái quát và định hướng rõ ràng hơn. Nó giúp người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ, nhận thức được vai trò của việc bảo tồn bản sắc văn hóa trong thời đại mới. Trong khi đó, bài thơ lại tác động mạnh mẽ đến cảm xúc, đánh thức tình yêu quê hương từ những điều giản dị nhất.
Tóm lại, cả hai văn bản đều góp phần khẳng định giá trị thiêng liêng của quê hương trong đời sống con người. Nếu văn bản Đọc hiểu mang tính lý luận, định hướng nhận thức, thì bài thơ “Về làng” lại là tiếng lòng tha thiết, giàu cảm xúc. Sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm ấy giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của quê hương, từ đó biết trân trọng và gìn giữ những giá trị tốt đẹp của cội nguồn.