Lý Thị Thùy Linh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. (2.0 điểm) Phân tích hình tượng người phụ nữ trong bài thơ
Trong bài thơ Những người đàn bà gánh nước sông của Nguyễn Quang Thiều, hình tượng người phụ nữ hiện lên đầy ám ảnh, vừa tảo tần vừa như một biểu tượng của kiếp người lam lũ. Họ hiện ra qua những chi tiết rất thực: “ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái”, “bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt”. Đó là vẻ đẹp của sự hy sinh thầm lặng, gánh trên vai không chỉ đôi thùng nước mà còn cả gánh nặng gia đình, cơm áo. Đòn gánh “bé bỏng chơi vơi” trên vai họ đối lập với sức nặng vô hình của định mệnh. Đau xót hơn, cái vòng luẩn quẩn ấy không dứt: “Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến”. Người phụ nữ trở thành biểu tượng cho sự lặp lại nghiệt ngã của nghèo khó, của phận đàn bà gắn với sông nước, bến bãi. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm xót thương sâu sắc, đồng thời day dứt về một kiếp sống mòn mỏi, mòn cả ước mơ ở làng quê. (199 chữ)
Câu 2. (4.0 điểm) Nghị luận về hội chứng “burnout” của giới trẻ hiện nay
Trong xã hội hiện đại, “burnout” hay kiệt sức đã trở thành hội chứng phổ biến ở giới trẻ. Đây là trạng thái cạn kiệt về thể chất, tinh thần do áp lực kéo dài từ học tập, công việc và kỳ vọng xã hội.
Nguyên nhân chính đến từ nhịp sống gấp gáp. Người trẻ phải chạy đua với điểm số, KPI, với chuẩn mực “thành công sớm” lan truyền trên mạng xã hội. Họ sợ bị bỏ lại phía sau nên ôm đồm nhiều việc, làm thêm, học thêm, xây dựng hình ảnh. Bên cạnh đó, việc thiếu kết nối thật, sống trong thế giới ảo nhưng cô đơn cũng bào mòn năng lượng. Nhiều bạn trẻ làm việc 10-12 tiếng/ngày, thiếu ngủ, bỏ bữa, đánh đổi sức khỏe để chứng minh giá trị bản thân.
Hậu quả của burnout rất nghiêm trọng. Về thể chất, nó gây mất ngủ, rối loạn lo âu, trầm cảm, suy giảm miễn dịch. Về tinh thần, người trẻ mất đi động lực, hoài nghi ý nghĩa công việc, thậm chí buông xuôi. Nhiều trường hợp dẫn đến “quiet quitting” - đi làm nhưng không còn tâm huyết, hoặc tệ hơn là các vấn đề tâm lý cực đoan.
Để vượt qua burnout, trước hết người trẻ cần học cách “sống chậm lại”. Dám đặt ranh giới giữa công việc và cuộc sống, dám từ chối, dám nghỉ ngơi mà không thấy tội lỗi. Doanh nghiệp và nhà trường cũng phải thay đổi: xây dựng văn hóa làm việc lành mạnh, chú trọng sức khỏe tinh thần, không tôn vinh văn hóa “cày đêm”. Quan trọng nhất, mỗi người cần xác định lại giá trị sống cho riêng mình, thay vì chạy theo thước đo của người khác. Thành công không chỉ là chức vụ hay tiền bạc, mà còn là một cơ thể khỏe mạnh và một tâm hồn bình an.
Burnout không phải dấu hiệu của kẻ yếu đuối, mà là lời cảnh báo của cơ thể khi ta đã đi quá giới hạn. Nhận diện và chữa lành nó chính là cách người trẻ yêu thương bản thân và sống có trách nhiệm với tương lai. (598 chữ)
Bài thơ: Những người đàn bà gánh nước sông – Nguyễn Quang Thiều, 1992
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.
Thể thơ tự do.
Câu 2.
Có 3 phương thức biểu đạt chính:
Miêu tả: Tả hình ảnh người đàn bà gánh nước: “ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra”, “bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt”.
Biểu cảm: Bày tỏ nỗi xót xa, thương cảm, trăn trở trước số phận con người: “Sông gục mặt vào bờ đất lẩn đi”, “cá thiêng quay mặt khóc”.
Tự sự: Kể lại hành trình lặp đi lặp lại của các thế hệ: mẹ gánh nước, con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu ra đi.
Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?
Tác dụng:
Nhấn mạnh sự trường tồn, lặp lại của kiếp sống lam lũ, nhọc nhằn. Thời gian đằng đẵng 5 năm, 15 năm, 30 năm… cho thấy nỗi cơ cực đã thành vòng đời, thành định mệnh.
Tạo nhịp điệu trầm buồn, ám ảnh cho bài thơ, như tiếng thở dài của tác giả trước hiện thực.
Thể hiện chiều sâu suy tư, chiêm nghiệm của nhân vật trữ tình. Đó không phải cái nhìn thoáng qua mà là sự chứng kiến cả “nửa đời” người, đủ để nhận ra quy luật nghiệt ngã của đời sống.
Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.
Đề tài: Số phận con người lao động nghèo khổ ở làng quê ven sông, đặc biệt là người phụ nữ.
Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước vòng luẩn quẩn của kiếp người: người phụ nữ cả đời gánh gồng, người đàn ông ôm mộng lớn nhưng thất bại. Qua đó tác giả bày tỏ nỗi trăn trở về sự bế tắc, nghèo đói truyền từ đời này sang đời khác và khát vọng phá vỡ cái vòng lặp nghiệt ngã ấy.
Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ:
Thương cảm và biết ơn: Thương những người mẹ, người bà cả đời lam lũ “gánh nước sông” để nuôi gia đình. Từ đó biết trân trọng hơn những gì mình đang có.
Trăn trở về sự bế tắc của kiếp nghèo: Hình ảnh “con gái lại đặt đòn gánh lên vai”, “con trai lại vác cần câu” cho thấy vòng lặp nghèo đói. Điều này thôi thúc mỗi người phải học tập, lao động để thoát nghèo, thay đổi số phận.
Nhận thức về giá trị của quê hương: Dù nghèo khó nhưng quê hương với dòng sông, với những con người tảo tần vẫn là cội nguồn neo giữ tâm hồn. Cần có trách nhiệm với mảnh đất đã nuôi mình khôn lớn.
Câu 1. Chủ quyền đất nước là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, được đánh đổi bằng máu xương của bao thế hệ cha ông. Vì thế, ý thức bảo vệ chủ quyền có ý nghĩa sống còn với thế hệ trẻ hôm nay. Khi mỗi bạn trẻ hiểu rõ Hoàng Sa, Trường Sa là máu thịt của Tổ quốc, ta sẽ không thờ ơ trước thông tin sai lệch, không vô cảm trước sự hi sinh của người lính đảo, ngư dân bám biển. Ý thức ấy trở thành “màng lọc” giúp người trẻ tỉnh táo khi dùng mạng xã hội, biết phản bác luận điệu xuyên tạc, đồng thời chủ động học tập, rèn luyện để góp sức xây dựng đất nước giàu mạnh, đủ sức bảo vệ biển trời. Giữ chủ quyền không chỉ là cầm súng, mà còn là giữ vững tri thức, văn hoá, kinh tế. Khi thế hệ trẻ cùng “bám biển” bằng bản lĩnh và trí tuệ, Tổ quốc mới thực sự vững bền.
Câu 2. Nếu biển đảo là “mặt tiền” của Tổ quốc thì núi rừng Trường Sơn chính là “phên dậu” vững chãi. Cùng viết về chủ quyền và sự hi sinh, văn bản “Tổ quốc ở Trường Sa” của Nguyễn Việt Chiến và bài thơ “Màu xanh Trường Sơn” đã gặp nhau ở cảm hứng ngợi ca đất nước, nhưng mỗi tác phẩm lại chọn một “toạ độ” thiêng liêng khác nhau để lay động lòng người.
Về giá trị nội dung, điểm gặp gỡ lớn nhất giữa hai văn bản là khẳng định chân lý: mỗi tấc đất của Tổ quốc đều thấm máu xương cha ông và cần được thế hệ sau gìn giữ. “Tổ quốc ở Trường Sa” nhắc ta về “máu cả ngàn chương sử đỏ”, về “máu ngư dân trên sóng lại chan hòa” để “một lần Tổ quốc được sinh ra”. Đó là Trường Sa, Hoàng Sa – nơi “sóng dữ” vẫn không ngăn được những “con mẹ vẫn ngày đêm bám biển”. Cùng mạch tư tưởng ấy, “Màu xanh Trường Sơn” lại đưa ta về với đại ngàn thời kháng chiến: “Màu xanh của Bác”, “Tóc nhiều sợi bạc / Cho màu thêm xanh”. Màu xanh ở đây là màu áo lính, màu lá ngụy trang, màu của niềm tin và ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Như vậy, dù là đảo xa hay rừng sâu, cả hai văn bản đều khắc sâu thông điệp: chủ quyền được tạo dựng từ hi sinh.
Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại nhấn mạnh một phương diện khác của sự hi sinh đó. “Tổ quốc ở Trường Sa” hướng về thời bình, về cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo hôm nay. Hình tượng trung tâm là ngư dân và người lính hải quân – những người đang “giữ biển” giữa thời tiết khắc nghiệt, giữa những toan tính xâm lấn. Bài thơ mang giọng điệu vừa hào sảng “Khi giặc đến vạn người con quyết tử”, vừa xót xa “Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa”. Qua đó, tác giả lay gọi trách nhiệm của hậu phương: “Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt”.
Ngược lại, “Màu xanh Trường Sơn” lại lùi về quá khứ, tái hiện con đường huyền thoại thời chống Mỹ. Bài thơ không nói trực tiếp về “giặc” mà nói về gian khổ: “Mùa mưa Trường Sơn / Suối thành sông rộng / Ba lô trĩu nặng / Con đường cheo leo / Cơn sốt hùa theo”. Giữa muôn vàn thử thách ấy, hình ảnh Bác hiện lên giản dị mà vĩ đại: “Tóc nhiều sợi bạc / Cho màu thêm xanh”. Màu xanh vì thế không chỉ là màu của rừng, mà là màu của lí tưởng, của sự sống nảy mầm từ hi sinh. Nếu “Tổ quốc ở Trường Sa” là lời hiệu triệu hướng ra biển, thì “Màu xanh Trường Sơn” là khúc tưởng niệm hướng về rừng, về cội nguồn sức mạnh dân tộc.
Về nghệ thuật, “Tổ quốc ở Trường Sa” dùng thể thơ tự do, câu chữ mạnh mẽ, hình ảnh biểu tượng “máu”, “cờ”, “biển” lặp lại nhằm khắc sâu chủ quyền. “Màu xanh Trường Sơn” lại dùng thể thơ 4-5 chữ, nhịp ngắn, dồn nén, gợi nhịp bước hành quân và hơi thở gấp gáp giữa rừng. Một bài hùng tráng, một bài lắng sâu, nhưng cùng bồi đắp tình yêu nước.
Tóm lại, từ biển đến rừng, từ Trường Sa đến Trường Sơn, hai văn bản đã dệt nên một tấm bản đồ tinh thần của Tổ quốc. “Tổ quốc ở Trường Sa” nhắc người trẻ hôm nay phải tỉnh thức giữ đảo, còn “Màu xanh Trường Sơn” nhắc ta không quên máu xương của thế hệ trước. Hiểu cả hai, ta mới thấy hết chiều dài, chiều rộng của hai tiếng “Việt Nam” và trách nhiệm của mình: giữ biển, giữ rừng, cũng là giữ lấy chính mình.
Câu 1.
Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do..
Câu 2. Hình ảnh biển đảo: “sóng dữ”, “Hoàng Sa”, “bám biển”, “giữ biển”, “máu ngư dân trên sóng”.
Hình ảnh đất nước/Tổ quốc: “Mẹ Tổ quốc”, “màu cờ nước Việt”, “Tổ quốc”, “bài ca giữ nước”.
Các từ ngữ này vừa cụ thể vừa mang tính biểu tượng, khắc họa biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, nơi nhân dân đang ngày đêm giữ gìn bằng cả sinh mệnh.
Câu 3. Biện pháp so sánh: “Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt”.
Tác dụng:
Nội dung: Khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa Tổ quốc với mỗi người dân. Tổ quốc không xa xôi mà luôn hiện hữu, ấm nóng, thiêng liêng như dòng máu trong cơ thể, như màu đỏ trên lá cờ.
Nghệ thuật: Tạo hình ảnh giàu sức gợi, dễ đi vào lòng người. Cách so sánh khiến khái niệm trừu tượng “Tổ quốc” trở nên gần gũi, cụ thể, từ đó khơi dậy tình yêu nước và ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền.
Câu 4. Đoạn trích thể hiện 3 tình cảm lớn:
Niềm tự hào: Tự hào về lịch sử “viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ”, về truyền thống “vạn người con quyết tử” để giữ nước.
Niềm tin yêu, xót xa: Thương những “con mẹ vẫn ngày đêm bám biển” giữa “sóng dữ phía Hoàng Sa”, trân trọng sự hi sinh thầm lặng của ngư dân: “Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa”.
Ý chí quyết tâm: Khẳng định chân lý “Biển Tổ quốc đang cần người giữ biển”, thôi thúc trách nhiệm của mỗi người với chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa – “Để một lần Tổ quốc được sinh ra”.
Câu 5. Em ấn tượng nhất với hình ảnh: “Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa / Máu của họ ngân bài ca giữ nước”. Hình ảnh ấy vừa dữ dội vừa thiêng liêng. “Máu chan hòa” gợi sự hi sinh, mất mát của ngư dân khi bám biển giữ đảo. Nhưng máu ấy không mất đi vô ích mà “ngân bài ca giữ nước”, biến nỗi đau thành khúc tráng ca bất tử. Câu thơ giúp em hiểu rằng chủ quyền hôm nay được đánh đổi bằng xương máu của bao thế hệ. Từ đó, em thấy mình phải sống có trách nhiệm hơn với biển đảo quê hương.
Câu 1:Trong thời đại hội nhập, việc thế hệ trẻ gìn giữ bản sắc quê hương mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Bản sắc quê hương là cội nguồn, là hồn cốt được kết tinh từ phong tục, tiếng nói, làn điệu dân ca, món ăn và nếp sống của cha ông. Gìn giữ những giá trị ấy giúp người trẻ không bị hoà tan giữa làn sóng văn hoá ngoại lai, có điểm tựa tinh thần vững chắc để định hình nhân cách. Đó còn là cách để ta biết trân trọng quá khứ, hiểu sâu sắc nơi mình sinh ra, từ đó nuôi dưỡng lòng tự hào và trách nhiệm xây dựng quê hương. Khi mỗi bạn trẻ biết hát một điệu chèo, kể một tích làng hay giữ nếp nhà “uống nước nhớ nguồn”, thì văn hoá dân tộc sẽ còn mãi. Bản sắc quê hương không làm ta lạc hậu, ngược lại, nó chính là “tấm căn cước” độc đáo để ta tự tin bước ra thế giới.
Câu 2: Quê hương luôn là mạch nguồn cảm xúc bất tận trong văn học Việt Nam. Cùng viết về đề tài ấy, văn bản “Quê Biển” ở phần Đọc hiểu và bài thơ “Về làng” của Đỗ Viết Tuyển đã gặp nhau ở tấm lòng tha thiết với nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng lại có những nét riêng độc đáo trong cách khám phá và thể hiện. So sánh hai văn bản giúp ta thấy được sự phong phú của tình yêu quê trong tâm hồn người Việt.
Điểm gặp gỡ đầu tiên và quan trọng nhất giữa hai văn bản chính là sự khẳng định: quê hương là phần máu thịt, là căn cước tinh thần không thể thay thế của mỗi con người. “Quê Biển” dựng lên một làng chài ven biển với những hình ảnh vừa dữ dội vừa nên thơ: “Quê tôi gối đầu lên ngực biển”, “làng nép mình như một cánh buồm nghiêng”. Đó là nơi con người “nương sóng ngọn triều lên”, sống cuộc đời lênh đênh mà kiên cường, gắn bó với biển đến mức “những con còng con cáy… phải quá yêu quê mà đầu thai chuyển kiếp để được muôn đời lặn lội với quê hương”. Cùng mạch cảm xúc ấy, “Về làng” lại đưa ta về một miền quê đồng bằng Bắc Bộ: có “con đê đầu làng”, “heo may sải cánh đồng ngang”, “khói bếp lam chiều”, “cánh diều tuổi thơ”. Dù là biển hay đồng, cả hai không gian đều hiện lên bình dị mà thiêng liêng, là nơi lưu giữ ký ức và nuôi dưỡng tâm hồn.
Tuy nhiên, mỗi văn bản lại chọn một góc nhìn riêng để khắc sâu giá trị nội dung. “Quê Biển” nghiêng về tái hiện vẻ đẹp trong sự khắc nghiệt. Làng chài “lênh đênh trôi từ kỉ nguyên nào chẳng biết”, những “ngôi nhà rám nắng mọc chênh vênh sau mỗi trận bão về”, người mẹ “bạc đầu sau những đêm đợi biển”, đôi mắt “trũng sâu vị muối mặn mòi”. Qua đó, tác giả ngợi ca vẻ đẹp của sự bền bỉ, của tình yêu quê hương được thử thách qua bão giông, qua mồ hôi nước mắt của “những phận người xô dạt”. Làng được ví như “mảnh lưới trăm năm cha ông phơi nhoài bên mép biển”, con người như “cánh buồm quê” mỗi sớm “lại giong hồn làng ra khơi vào lộng”. Như vậy, “Quê Biển” nhấn mạnh bản sắc quê hương hình thành từ lao động, từ sự gắn bó sinh tử với biển cả.
Ngược lại, “Về làng” lại là hành trình trở về trong tâm tưởng, nhuốm màu hoài niệm và nuối tiếc. Nhân vật trữ tình “xuống tàu vội vã về quê” nhưng càng đi càng thấy xa: “Tóc xanh đã bạc mà chưa tới làng”. Làng quê trong thơ không còn nguyên vẹn: “Người xưa giờ có còn sang hát chèo”. Các hình ảnh “khói bếp lam chiều”, “cánh diều tuổi thơ” hiện lên như những mảnh ký ức đẹp đẽ đang dần lùi xa. Nếu “Quê Biển” nói về sự trường tồn trong gian khó thì “Về làng” lại cất lên nỗi lo về sự mai một của bản sắc trước dòng chảy thời gian và đô thị hóa. Câu thơ kết bỏ lửng, khiến người đọc day dứt: vật chất có thể trở về, nhưng “hồn làng” liệu còn không?
Về nghệ thuật, “Quê Biển” sử dụng thể thơ tự do, câu chữ phóng khoáng như chính nhịp sóng, giàu hình ảnh ẩn dụ, nhân hoá: “biển gối đầu”, “làng nép mình”, “sóng ì oạp giấc mơ”. Còn “Về làng” lại chọn thể lục bát truyền thống, giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, phù hợp với nỗi nhớ bâng khuâng, với không gian văn hoá đồng bằng. Chính sự khác biệt về thể loại đã tạo nên hai “giọng điệu quê hương”: một mạnh mẽ, rắn rỏi của biển; một da diết, trầm lắng của đồng.
Tóm lại, “Quê Biển” và “Về làng” tuy khác nhau về không gian – một bên là biển, một bên là đồng – khác nhau về trạng thái cảm xúc – một bên kiêu hãnh kiên cường, một bên bâng khuâng nuối tiếc, nhưng đều gặp nhau ở giá trị nội dung cốt lõi: khẳng định quê hương là nguồn cội thiêng liêng, là nơi hình thành bản sắc và nhân cách con người. Từ sự lam lũ của làng chài đến nỗi ngậm ngùi của người xa quê, hai văn bản cùng nhắc nhở thế hệ hôm nay: dù đi đâu, làm gì, hãy giữ lấy hồn quê trong tim mình, bởi đó chính là điểm tựa để ta không lạc mất mình giữa dòng đời.
câu1: thể thơ tự do
câu 2: một hình ảnh mang tính biểu tượng cho cuộc sống làng biển :"làng là mảnh lưới trăm năm
câu 3 : hình ảnh " mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển" gợi:
- sự chờ đợi mòi mỏn đầy lo âu của người mẹ có chồng, con bám biển , và nỗi vất vả lo âu của người đàn bà làng chài
câu 4: "làng là mảnh lưới trăm năm" gợi cuộc sống làng chài gắn bó bền chawtj với bieenr qua nhiêud thế hệ và truyền thống lao động biển được cha ông giưc gìn, nối tiếp
câu 5: con người hiện lên với sự bền bỉ nhẫn nại trước sóng gió thiên nhiên. Lao động vất vả giúp họ tạo dựng cuộc sống và nuôi dưỡng niềm hy vọng
Câu nói của Nết thể hiện nỗ lực kìm nén nỗi đau, làm chủ cảm xúc, tinh thần quật cường, quyết tâm trả món nợ nước, thù nhà. Từ đó, HS có thể nêu quan điểm cá nhân về cách thức đối diện với những nghịch cảnh trong cuộc sống nhưng cần có phần diễn giải thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý: giữ vững tinh thần, bình tĩnh tìm giải pháp thích hợp để vượt qua thử thách; sẻ chia tâm sự với những người thân yêu để giải tỏa tâm lí, có thêm động lực để chiến thắng nghịch cảnh…