Nguyễn Phương Hân
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Ngôi kể: Ngôi kể thứ nhất - xưng "tôi".
Câu 2.
Kiệt tác của cậu bé trong văn bản là bức tranh vẽ một con trăn nuốt chửng một con voi.
Câu 3
Lí giải hợp lí dựa trên những thông tin được cung cấp trong văn bản
– Ví dụ: Người lớn khuyên chú bé nên chú tâm vào những môn văn hóa như môn địa, môn sử, môn toán và môn ngữ pháp vì họ cho rằng những môn học này là những môn học quan trọng, sẽ giúp ích được cho chú bé trong tương lai. Điều này cũng cho thấy những người lớn trong văn bản trên có phần thực dụng vì họ chú trọng những yếu tố, lợi ích thực tế hơn là ước mơ hay những giá trị tinh thần của trẻ thơ.
Câu 4.
– Những người lớn trong văn bản được miêu tả là những người vô cảm, thiếu tinh tế và thực dụng.
+ Vô cảm, thiếu tinh tế: Trước trẻ thơ, lẽ ra họ cần có thái độ khích lệ, động viên nhưng họ liên tục dập tắt hi vọng và ước mơ họa sĩ của chú bé.
+ Thực dụng: Vì chỉ quan tâm đến những gì có ích cho cuộc sống tương lai, chứ không hề nghĩ đến việc vun đắp, bồi dưỡng để ước mơ đứa trẻ được lớn lên và hiện thực hóa.
=> Nhận xét: những người lớn trong văn bản là những người ích kỉ, thiếu sáng suốt,..
Câu 5.
Qua văn bản trên em rút ra một số bài học cho bản thân.
+ Cần kiên định theo đuổi ước mơ, đam mê.
+ Cần khích lệ, động viên, trân trọng những ước mơ của con trẻ.
+ Cần chú trọng những giá trị tinh thần hơn trong bối cảnh cuộc sống bộn bề ngày nay.
Câu 1
Bài thơ “Khán ‘Thiên gia thi’ hữu cảm” của Nguyễn Ái Quốc thể hiện rõ quan niệm mới mẻ về thơ ca. Hai câu đầu gợi lại đặc điểm của thơ xưa: thường thiên về vẻ đẹp thiên nhiên như núi, sông, hoa, tuyết, trăng, gió. Những hình ảnh ấy cho thấy thơ cổ chủ yếu hướng đến cái đẹp thanh nhã, mang tính thưởng ngoạn, ít gắn với đời sống thực tế. Tuy nhiên, ở hai câu sau, tác giả đã nêu lên một quan điểm tiến bộ: thơ ca thời đại mới phải có “thép”, tức là phải có sức mạnh tinh thần, ý chí chiến đấu và gắn với vận mệnh dân tộc. Nhà thơ không chỉ biết rung cảm trước cái đẹp mà còn phải biết “xung phong”, dấn thân vào cuộc đời, góp phần vào sự nghiệp cách mạng. Qua đó, bài thơ khẳng định vai trò to lớn của văn học nghệ thuật: không chỉ để thưởng thức mà còn để phục vụ con người, cổ vũ tinh thần đấu tranh và xây dựng xã hội. Đây chính là tư tưởng nghệ thuật vừa giàu tính nhân văn vừa mang ý nghĩa cách mạng sâu sắc.
Câu 1
Thể là của văn bản trên là: Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 2
Luật của bài thơ trên là: Căn cứ vào chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất là chữ “thi” – luật bằng, suy ra bài thơ được triển khai theo luật bằng
Câu 3
Một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong bài thơ là: Biện pháp tu từ liệt kê được thể hiện qua việc tác giả chỉ ra những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên được đưa vào thơ cổ: Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong. Phép liệt kê được sử dụng ở đây có tác dụng làm rõ cho quan điểm Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ mà tác giả đưa ra trước đó.
Câu 5
Cấu tứ của bài thơ là:
+ Bố cục: Bao gồm 2 phần: Hai câu đầu nói về thơ xưa, hai câu sau nói về thơ nay.
+ Mạch cảm xúc: Hai câu thơ đầu thể hiện sự trân trọng đối với vẻ đẹp thơ xưa, hai câu sau thể hiện sự cởi mở, khuyến khích sự đổi mới về nội dung thơ ca, tư duy sáng tác trong thời đại mới.
=> Bài thơ có kết cấu chặt chẽ, vừa tương phản, đối lập, vừa hài hòa, thống nhất. Đặt thơ xưa với thơ nay trong sự đối lập, tác giả không nhằm hạ thấp thơ xưa, trái lại Người rất trân trọng, yêu thích thơ xưa, nhưng Người không đồng tình với quan điểm sáng tác đó. Nên Người đã nêu lên quan niệm nghệ thuật của mình về thơ nay – cần có “chất thép” ở trong thơ, để thơ ca trở thành một thứ vũ khí sắc bén, còn anh chị em sáng tác sẽ là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ.
Câu 1
Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo và tài năng nghệ thuật đặc sắc của tác giả. Về nội dung, đoạn trích là tiếng khóc xót thương cho những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội cũ: người lính chết trận, kẻ đói khổ, người phụ nữ lỡ làng, những phận đời sống không nơi nương tựa. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ tấm lòng cảm thông sâu sắc đối với con người, dù họ là ai, ở địa vị nào. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều từ láy gợi cảm, giọng điệu thống thiết, bi thương. Các hình ảnh mang màu sắc tâm linh kết hợp với cảm xúc chân thành đã tạo nên sức ám ảnh mạnh mẽ. Đoạn trích không chỉ phản ánh hiện thực đau khổ mà còn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, làm nên giá trị bền vững của tác phẩm.
Câu 1
Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo và tài năng nghệ thuật đặc sắc của tác giả. Về nội dung, đoạn trích là tiếng khóc xót thương cho những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội cũ: người lính chết trận, kẻ đói khổ, người phụ nữ lỡ làng, những phận đời sống không nơi nương tựa. Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ tấm lòng cảm thông sâu sắc đối với con người, dù họ là ai, ở địa vị nào. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều từ láy gợi cảm, giọng điệu thống thiết, bi thương. Các hình ảnh mang màu sắc tâm linh kết hợp với cảm xúc chân thành đã tạo nên sức ám ảnh mạnh mẽ. Đoạn trích không chỉ phản ánh hiện thực đau khổ mà còn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, làm nên giá trị bền vững của tác phẩm.
Câu 1: Thể loại của văn bản là truyện ngắn
Câu 2 Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự
Câu 3 Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn là so sánh
- tác dụng
+ Gợi hình ảnh cuộc đời hai người qua thời son trẻ, gặp nhau khi cuộc sống đã nhạt phai
+ Thể hiện sự cam chịu, nghèo khó, duyên phận lỡ làng của hai vợ chồng Duyên
+ Tăng tính biểu cảm, gợi thương cho kiếp người nghèo
Câu 4 Văn bản trên kể về cuộc sống cơ cực của vợ chồng anh Duyên chị Duyên trong cảnh nghèo đói, túng quẫn, qua đó thể hiện nỗi thương cảm sâu sắc của tác giả với những người nông dân nghèo, đồng thời lên án sự khốn cùng do đói nghèo và bạo lực gây nên.
Cau5
Em ấn tượng với chi tiết: Cái chết thương tâm của bé Gái
Vì chi tiết ấy khiến nguời đọc xót xa, thương cảm cho số phận của những đứa trẻ vô tội phải chịu hậu quả của bạo lực và đói nghèo, đồng thời làm nổi bật giá trị nhân đạo chuyện