Vũ Thị Lan Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Thị Lan Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật "tôi" trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ Lúc nhỏ: Nhân vật "tôi" vì hứng thú với một câu chuyện về giới động vật mà vẽ bức tranh con trăn nuốt chửng con thú. Từ đó, nhân vật "tôi" liên tục vẽ tranh và hỏi cảm nhận của người lớn về bức tranh ấy, thế nhưng chú bé năm ấy phải đối diện với hiện thực là: 

   ++ Người lớn không hiểu được bức vẽ của chú. 

   ++ Người lớn không khích lệ cậu bé, cũng như không thể hiện điều mà chú bé mong đợi. 

   ++ Người lớn khuyên chú bé hãy chú tâm học các môn văn hóa lúc bấy giờ mà không nghĩ đến cảm nhận của chú. 

=> Chính sự vô cảm, thiếu tinh tế này của những người lớn mà nhân vật "tôi" thất vọng, đành từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ, chấp nhận sống như những gì mà người lớn mong muốn. 

+ Khi lớn lên, nhân vật "tôi" trở thành phi công, đi nhiều nơi, gặp nhiều người nhưng những con người ấy vẫn mang những "bản chất của người lớn" năm nào. Dường như người lớn đều thực dụng, ít tưởng tượng, mộng mơ và vô cảm, nhạt nhẽo. Dẫu vậy, nhân vật "tôi" vẫn ôm hi vọng gặp được người giống mình. Hễ gặp ai sáng sủa, nhân vật này lại mang bức tranh cũ ra để hỏi cảm nhận của người đó. Nhưng khi nhận được câu trả lời chả khác bao với thời thơ ấu, nhân vật "tôi" lại buộc lòng hạ thấp chính mình, quay trở về làm một người lớn chính hiệu: Phải sống một cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt, phải trò chuyện với những người lớn thực dụng, thờ ơ về những chủ đề tầm thường trong cuộc sống (bài bạc, đấu bóng, chính trị, cà vạt). 

=> HS dựa trên những cảm nhận cá nhân để rút ra nhận xét về nhân vật này. 

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2. (4 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". (Giacomo Leopardi)

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: 

– Giải thích ý kiến: Ý kiến của Giacomo Leopardi gồm 2 vế:

+ Vế 1: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì": Giải thích ý nghĩa của cụm "chẳng có gì" (tức là thế giới đơn giản, ít vật chất, giàu trí tưởng tượng). Từ đó, có thể thấy, trẻ em có khả năng tìm thấy niềm vui, sự kỳ diệu từ những điều nhỏ nhặt, giản đơn, bình dị nhất trong cuộc sống.

+ Vế 2: "Người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả": Giải thích ý nghĩa của từ "tất cả" (đó là một cuộc sống đầy đủ vật chất). Từ đó, ta có thể hiểu rằng dù người lớn có sống trong một thế giới đủ đầy nhưng họ vẫn không có được hạnh phúc thật sự vì tâm hồn họ đã trở nên khô cằn, mất đi khả năng cảm nhận, tận hưởng cuộc sống do những lo toan, áp lực trong cuộc sống thường ngày.

– Phân tích các khía cạnh của vấn đề: 

+ Sự khác biệt trong nhận thức, cách tiếp cận: Trẻ con nhìn thế giới bằng con mắt tò mò, khám phá. Người lớn nhìn thế giới qua lăng kính của kinh nghiệm, định kiến và lo toan.

+ Sự khác biệt về cách cảm nhận: Trẻ con có trí tưởng tượng phong phú, biến những điều bình thường thành phi thường. Người lớn thường bị giới hạn bởi tư duy logic, thực dụng nên càng khó cảm nhận được cái đẹp từ những điều bình dị, nhỏ bé. 

=> Trẻ con biết trân trọng những điều nhỏ nhặt, tìm thấy niềm vui từ những điều nhỏ bé. Trong khi đó, người lớn vì thường chạy theo những giá trị vật chất nên đã bỏ qua những điều giản dị mà ý nghĩa. Nguyên do là bởi cuộc sống hiện đại có nhiều áp lực, cạnh tranh khiến người lớn mất đi sự hồn nhiên, lạc quan, vui vẻ trong cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh.

– Bàn luận: Thế nhưng trong cuộc sống hiện nay, dù chúng ta nghiêng quá về cái nhìn nào cũng là điều bất cập. Bởi: 

+ Nếu nghiêng về cái nhìn hồn nhiên thì sẽ dần xa rời cuộc sống, chìm đắm trong những ảo mộng hão huyền. 

+ Nếu nghiêng về cái nhìn thực tế thì sẽ dần trở nên khô khan, tẻ nhạt và không tìm thấy được hạnh phúc thật sự đang tồn tại xung quanh chúng ta. 

=> HS tự liên hệ với bản thân và rút ra bài học: Cần có cái nhìn đúng đắn, hài hòa giữa những cách nhìn để vừa giữ được sự hồn nhiên trong tâm hồn, học được cách cảm nhận những vẻ đẹp bình dị trong cuộc sống, vừa giữ được cái nhìn thực tế, chín chắn trong cuộc sống.

* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1. (2 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật "tôi" trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: 

+ Lúc nhỏ: Nhân vật "tôi" vì hứng thú với một câu chuyện về giới động vật mà vẽ bức tranh con trăn nuốt chửng con thú. Từ đó, nhân vật "tôi" liên tục vẽ tranh và hỏi cảm nhận của người lớn về bức tranh ấy, thế nhưng chú bé năm ấy phải đối diện với hiện thực là: 

   ++ Người lớn không hiểu được bức vẽ của chú. 

   ++ Người lớn không khích lệ cậu bé, cũng như không thể hiện điều mà chú bé mong đợi. 

   ++ Người lớn khuyên chú bé hãy chú tâm học các môn văn hóa lúc bấy giờ mà không nghĩ đến cảm nhận của chú. 

=> Chính sự vô cảm, thiếu tinh tế này của những người lớn mà nhân vật "tôi" thất vọng, đành từ bỏ ước mơ trở thành họa sĩ, chấp nhận sống như những gì mà người lớn mong muốn. 

+ Khi lớn lên, nhân vật "tôi" trở thành phi công, đi nhiều nơi, gặp nhiều người nhưng những con người ấy vẫn mang những "bản chất của người lớn" năm nào. Dường như người lớn đều thực dụng, ít tưởng tượng, mộng mơ và vô cảm, nhạt nhẽo. Dẫu vậy, nhân vật "tôi" vẫn ôm hi vọng gặp được người giống mình. Hễ gặp ai sáng sủa, nhân vật này lại mang bức tranh cũ ra để hỏi cảm nhận của người đó. Nhưng khi nhận được câu trả lời chả khác bao với thời thơ ấu, nhân vật "tôi" lại buộc lòng hạ thấp chính mình, quay trở về làm một người lớn chính hiệu: Phải sống một cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt, phải trò chuyện với những người lớn thực dụng, thờ ơ về những chủ đề tầm thường trong cuộc sống (bài bạc, đấu bóng, chính trị, cà vạt). 

=> HS dựa trên những cảm nhận cá nhân để rút ra nhận xét về nhân vật này. 

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2. (4 điểm)

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì, còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". (Giacomo Leopardi)

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: 

– Giải thích ý kiến: Ý kiến của Giacomo Leopardi gồm 2 vế:

+ Vế 1: "Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì": Giải thích ý nghĩa của cụm "chẳng có gì" (tức là thế giới đơn giản, ít vật chất, giàu trí tưởng tượng). Từ đó, có thể thấy, trẻ em có khả năng tìm thấy niềm vui, sự kỳ diệu từ những điều nhỏ nhặt, giản đơn, bình dị nhất trong cuộc sống.

+ Vế 2: "Người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả": Giải thích ý nghĩa của từ "tất cả" (đó là một cuộc sống đầy đủ vật chất). Từ đó, ta có thể hiểu rằng dù người lớn có sống trong một thế giới đủ đầy nhưng họ vẫn không có được hạnh phúc thật sự vì tâm hồn họ đã trở nên khô cằn, mất đi khả năng cảm nhận, tận hưởng cuộc sống do những lo toan, áp lực trong cuộc sống thường ngày.

– Phân tích các khía cạnh của vấn đề: 

+ Sự khác biệt trong nhận thức, cách tiếp cận: Trẻ con nhìn thế giới bằng con mắt tò mò, khám phá. Người lớn nhìn thế giới qua lăng kính của kinh nghiệm, định kiến và lo toan.

+ Sự khác biệt về cách cảm nhận: Trẻ con có trí tưởng tượng phong phú, biến những điều bình thường thành phi thường. Người lớn thường bị giới hạn bởi tư duy logic, thực dụng nên càng khó cảm nhận được cái đẹp từ những điều bình dị, nhỏ bé. 

=> Trẻ con biết trân trọng những điều nhỏ nhặt, tìm thấy niềm vui từ những điều nhỏ bé. Trong khi đó, người lớn vì thường chạy theo những giá trị vật chất nên đã bỏ qua những điều giản dị mà ý nghĩa. Nguyên do là bởi cuộc sống hiện đại có nhiều áp lực, cạnh tranh khiến người lớn mất đi sự hồn nhiên, lạc quan, vui vẻ trong cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh.

– Bàn luận: Thế nhưng trong cuộc sống hiện nay, dù chúng ta nghiêng quá về cái nhìn nào cũng là điều bất cập. Bởi: 

+ Nếu nghiêng về cái nhìn hồn nhiên thì sẽ dần xa rời cuộc sống, chìm đắm trong những ảo mộng hão huyền. 

+ Nếu nghiêng về cái nhìn thực tế thì sẽ dần trở nên khô khan, tẻ nhạt và không tìm thấy được hạnh phúc thật sự đang tồn tại xung quanh chúng ta. 

=> HS tự liên hệ với bản thân và rút ra bài học: Cần có cái nhìn đúng đắn, hài hòa giữa những cách nhìn để vừa giữ được sự hồn nhiên trong tâm hồn, học được cách cảm nhận những vẻ đẹp bình dị trong cuộc sống, vừa giữ được cái nhìn thực tế, chín chắn trong cuộc sống.

* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. 

đ. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

1. Phân tích nhân vật lão Goriot  Answer: Bài làm Lão Goriot, nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết cùng tên của Honoré de Balzac, là một điển hình bi kịch về tình phụ tử mù quáng và sự tha hóa của xã hội đồng tiền đầu thế kỷ 19 ở Paris.  Ban đầu, lão là một nhà buôn mì sợi giàu có, nhưng vì muốn các con gái mình là Delphine và Anastasie được bước chân vào giới thượng lưu, lão đã dốc hết tài sản hồi môn cho chúng. Tình yêu thương con của lão là vô điều kiện và mãnh liệt, đến mức lão chấp nhận sống trong cảnh nghèo túng, bị mọi người trong quán trọ Vauquer khinh miệt, chỉ để đổi lấy hạnh phúc và địa vị cho con. Lão sẵn sàng hy sinh mọi thứ, kể cả mạng sống của mình.  Tuy nhiên, tình yêu đó lại trở nên mù quáng khi lão không nhận ra sự ích kỷ, vô ơn của các con. Hai cô con gái, sau khi đạt được mục đích, đã dần xa lánh cha, chỉ tìm đến khi cần tiền. Bi kịch lên đến đỉnh điểm khi lão hấp hối, nhưng cả hai đều không đến bên giường cha vì bận dự vũ hội hoặc giữ thể diện. Chỉ có chàng sinh viên Rastignac và tên tù vượt ngục Vautrin chứng kiến cái chết cô độc của lão.  Qua nhân vật lão Goriot, Balzac phơi bày hiện thực xã hội Pháp lúc bấy giờ, nơi đồng tiền chi phối mọi mối quan hệ, kể cả tình cảm gia đình thiêng liêng. Lão Goriot là nạn nhân của chính tình yêu mù quáng của mình và sự lạnh lùng, tàn nhẫn của xã hội thượng lưu Paris.  2. Suy nghĩ về sự xa cách giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện đại  Sự xa cách giữa cha mẹ và con cái trong xã hội hiện đại  Sự xa cách giữa cha mẹ và con cái là một thực trạng đáng lo ngại trong xã hội hiện đại, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.  Thứ nhất, áp lực công việc và cuộc sống mưu sinh khiến cha mẹ dành ít thời gian cho con cái. Trong guồng quay hối hả của xã hội, việc kiếm tiền, xây dựng sự nghiệp trở thành ưu tiên hàng đầu, làm giảm đi sự kết nối và thấu hiểu giữa các thế hệ.  Thứ hai, sự bùng nổ của công nghệ và mạng xã hội tạo ra một rào cản vô hình. Con cái đắm chìm trong thế giới ảo, giao tiếp chủ yếu qua màn hình điện thoại, máy tính, làm mất đi những cuộc trò chuyện trực tiếp, ấm áp trong gia đình.  Thứ ba, khoảng cách thế hệ về tư duy, lối sống, giá trị quan cũng là một yếu tố quan trọng. Cha mẹ và con cái thường có những quan điểm khác biệt về học tập, nghề nghiệp, tình yêu, dẫn đến những mâu thuẫn, bất đồng khó giải quyết.  Hệ quả của sự xa cách này là con cái dễ cảm thấy cô đơn, thiếu sự định hướng, thậm chí sa ngã vào những tệ nạn xã hội. Tình cảm gia đình dần phai nhạt, mất đi sự gắn kết, yêu thương.  Để giải quyết vấn đề này, cần sự nỗ lực từ cả hai phía. Cha mẹ cần sắp xếp thời gian, ưu tiên dành cho con cái, lắng nghe và thấu hiểu những tâm tư, nguyện vọng của con. Con cái cũng cần chủ động chia sẻ, bày tỏ tình cảm và tôn trọng ý kiến của cha mẹ. Xây dựng một môi trường gia đình ấm áp, cởi mở là chìa khóa để thu hẹp khoảng cách thế hệ và vun đắp tình cảm gia đình bền chặt. 


Câu 1. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản: Ngôi kể thứ ba Đoạn trích sử dụng ngôi kể thứ ba, được thể hiện qua việc người kể chuyện giấu mặt và gọi tên các nhân vật (lão Goriot, Rastignac, Nucingen, Eugène).  Câu 2. Đề tài của văn bản trên là gì? Tình phụ tử thiêng liêng và bi kịch của lão Goriot Văn bản tập trung làm nổi bật tình yêu thương vô điều kiện của người cha (lão Goriot) dành cho các con gái, dù bị họ bòn rút tiền bạc và bỏ rơi trong cảnh nghèo khổ, qua đó phản ánh bi kịch đau lòng của lão.  Câu 3. Lời nói của lão Goriot với Rastignac sau đây: – Con phải yêu quý cha mẹ con. Ông già vừa nói vừa siết chặt bàn tay yếu ớt của mình vào bàn tay của Eugène. – Cậu có hiểu được rằng ta sẽ chết mà không được gặp các con gái của ta không? Ta luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống. Ta đã sống như thế trong suốt mười năm qua. gợi cho em những cảm nhận, suy nghĩ gì
  • Sự day dứt và khao khát: Lão Goriot khao khát được gặp con đến mức tuyệt vọng ("chết mà không được gặp các con gái", "luôn thấy khát nhưng không bao giờ ta được uống"), thể hiện tình phụ tử mãnh liệt và bi kịch bị ruồng bỏ. 
  • Lời cảnh tỉnh: Qua câu "Con phải yêu quý cha mẹ con", lão muốn nhắn nhủ, cảnh báo Rastignac và người đọc về tầm quan trọng của tình cảm gia đình, sự hiếu thảo, tránh đi vào vết xe đổ của các con gái lão. 
Câu 4.

 Bản năng yêu thương của người cha

Sự khao khát này xuất phát từ bản năng và tình yêu thương vô bờ bến của người cha. Dù bị đối xử tệ bạc và trong cơn tức giận đã nguyền rủa con, nhưng sâu thẳm trong tim, lão vẫn chỉ mong muốn được nhìn thấy các con lần cuối trước khi chết. Tình phụ tử đã chiến thắng mọi sự oán giận và lý trí.  Câu 5. Nhận xét về tình cảnh lúc cuối đời của lão Goriot. Bi kịch đau đớn và cô độc Tình cảnh cuối đời của lão Goriot vô cùng bi thảm và đáng thương: 
  • Nghèo khổ và cô độc: Lão chết trong cảnh không một xu dính túi, không người thân bên cạnh chăm sóc. 
  • Đau đớn về tinh thần: Nỗi đau lớn nhất không phải là cái chết mà là sự ghẻ lạnh, vô tâm của chính những đứa con mình hết mực yêu thương, dồn hết tài sản để chúng có cuộc sống sung túc. 
  • Lời tố cáo: Tình cảnh của lão là lời tố cáo mạnh mẽ thói vị kỷ, sự suy đồi đạo đức và sức mạnh tha hóa của đồng tiền trong xã hội tư sản lúc bấy giờ.

câu2

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở giới trẻ hiện nay là vấn đề cấp thiết. Dù có xu hướng "sính ngoại" ở một bộ phận, nhiều bạn trẻ đang sáng tạo kết hợp nét cổ truyền với hiện đại, tạo nên bản sắc "hòa nhập không hòa tan", giữ vững "hồn cốt" dân tộc.  Văn hóa truyền thống là di sản vô giá, bao gồm các phong tục, tập quán, ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian và đạo lý tốt đẹp mà cha ông để lại. Đó là căn cước định danh của dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và thế giới. Trong thời đại toàn cầu hóa, việc gìn giữ văn hóa không chỉ bảo vệ bản sắc mà còn là cách để khẳng định vị thế quốc gia.  Hiện nay, ý thức của giới trẻ về vấn đề này có sự phân hóa rõ rệt. Một mặt, dưới tác động của văn hóa ngoại lai, một bộ phận thanh thiếu niên có xu hướng lãng quên truyền thống, chạy theo các xu hướng mới, "sính ngoại", thậm chí làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt. Tuy nhiên, một bộ phận lớn khác lại cho thấy sự trân trọng văn hóa dân tộc thông qua các hành động tích cực: yêu thích và quảng bá áo dài, cổ phục, âm nhạc dân tộc (như nhạc của Hoàng Thùy Linh, Đức Phúc), hay tham gia phục dựng các lễ hội truyền thống. Các bạn trẻ đang "làm mới" văn hóa bằng cách kết hợp những yếu tố truyền thống vào các sản phẩm hiện đại, giúp văn hóa không bị mai một mà trái lại, trở nên hấp dẫn hơn với thế hệ trẻ.  Để việc bảo tồn hiệu quả, giới trẻ cần chủ động tìm hiểu, trau dồi tri thức về văn hóa dân tộc. Thay vì chỉ "tiếp thu thụ động", hãy "kế thừa sáng tạo". Nhà trường và xã hội cần tổ chức thêm nhiều hoạt động, các sân chơi trải nghiệm thực tế để khơi gợi tình yêu văn hóa trong giới trẻ.  Tóm lại, văn hóa còn thì dân tộc còn. Giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống không phải là trở nên lạc hậu, mà là giữ vững cội nguồn để tự tin vươn ra thế giới. Thế hệ trẻ, với tư duy sáng tạo và lòng yêu nước, chính là những người nắm giữ tương lai của văn hóa Việt Nam.
1. Thể thơ  Answer: Thất ngôn tứ tuyệt
Văn bản "Khán Thiên gia thi hữu cảm" được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu, mỗi câu bảy chữ). 
2. Luật thơ  Answer: Luật trắc, vần bằng
Bài thơ tuân thủ niêm luật chặt chẽ của thơ Đường luật: 
  • Câu 1: Hiện đại thi trung ưng hữu thiết (Trắc - Trắc - Bằng - Bằng - Bằng - Trắc - Trắc) -> Chữ thứ 2 là "đại" (trắc) nên là luật trắc. 
  • Bài thơ gieo vần bằng ở cuối câu 1, 2, 4 (thiết - thiết - xung phong -> vần "thiết" và "phong" có thể không hoàn toàn chuẩn vần trong ngữ âm hiện đại nhưng tuân theo quy tắc cổ). 
3. Biện pháp tu từ  Answer: Ẩn dụ
Biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng qua hình ảnh "thi trung ưng hữu thiết" (trong thơ nên có thép) và "thi gia dã yếu hội xung phong"(nhà thơ cũng phải biết xung phong). 
  • Tác dụng: Nhấn mạnh quan điểm của Hồ Chí Minh về chức năng của thi ca, đặc biệt trong thời chiến. Thơ ca không chỉ là nghệ thuật miêu tả cảnh đẹp mà phải có tính chiến đấu, tinh thần cứng cỏi và người cầm bút cũng phải là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. 
4. Ý nghĩa quan điểm "Thi gia dã yếu hội xung phong"  Answer: Thể hiện tư tưởng nghệ thuật cách mạng
Tác giả cho rằng "Hiện đại thi trung ưng hữu thiết, / Thi gia dã yếu hội xung phong" vì: 
  • Đất nước đang trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, cần những vũ khí sắc bén để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân. 
  • Thơ ca cách mạng phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ nhiệm vụ chính trị, góp phần đấu tranh giải phóng dân tộc. 
  • Nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc mà phải dấn thân, trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh, lấy ngòi bút làm vũ khí. 
5. Cấu tứ bài thơ  Answer: Chặt chẽ, logic và cảm xúc
Cấu tứ của bài thơ "Khán Thiên gia thi hữu cảm" rất chặt chẽ: 
  • Hai câu đầu: Dẫn dắt từ việc đọc sách cổ (Thiên gia thi) để nhận ra hạn chế của thơ xưa chỉ chú trọng miêu tả phong cảnh (yên - hoa - tuyết - nguyệt). 
  • Hai câu sau: Từ nhận thức đó, Bác đưa ra quan điểm mới về thơ ca hiện đại: phải có sức mạnh của "thép" và tinh thần "xung phong" của nhà thơ. 
  • Cấu trúc bài thơ đi từ quan sát, nhận xét đến tư tưởng, quan điểm, thể hiện tư duy sắc sảo và tình yêu nước sâu sắc

Đoạn trích "Văn tế thập loại chúng sinh" của Nguyễn Du đặc sắc ở nội dung nhân đạo sâu sắc, xót thương cho số phận bi kịch của mọi kiếp người (từ vua quan đến người bần cùng) trong xã hội phong kiến, phản ánh bất công và tiếng kêu than về lẽ đời. Nghệ thuật thể hiện tinh tế qua thể văn tế biền ngẫu hài hòa với lời văn xuôi tự do, ngôn từ giàu sức gợi cảm (như "nước khe cơm vắt", "dãi dầu nghìn dặm"), hình ảnh cụ thể hóa số phận, kết hợp triết lý nhà Phật, tạo nên âm hưởng bi tráng, day dứt, vừa khóc thương người chết, vừa thức tỉnh người sống về cõi mê lầm. 

Câu 1. Phương thức biểu đạt:

Biểu cảm: Nổi bật nhất, thể hiện qua nỗi xót xa, thương cảm của tác giả trước số phận bi kịch của các chúng sinh (lính, phụ nữ, hành khất).

Miêu tả: Dùng từ ngữ hình ảnh sinh động để phác họa cảnh ngộ "nước khe cơm vắt gian nan", "lập lòe ngọn lửa ma trơi", "tiếng oan văng vẳng", "chết vùi đường quan".

Tự sự: Kể lại những hoàn cảnh, số phận cụ thể, "bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan", "liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa", "dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi".

Câu 2. Những kiếp người xuất hiện:

Kẻ mắc vào khóa lính: Bỏ nhà đi phục vụ quan trường, sống cảnh "dãi dầu nghìn dặm lầm than", "mạng người như rác" nơi chiến trận.

Người phụ nữ lỡ làng: "Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa", sống cô đơn, tủi cực khi về già.

Người hành khất: "Nằm cầu gối đất", sống nhờ vả, chết vùi nơi đường sá, "sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan".

Câu 3. Hiệu quả của từ láy:

Lập lòe: Gợi hình ảnh ngọn lửa không ổn định, lập lờ, mờ ảo, vừa hắt hiu vừa ma mị, không chỉ diễn tả ánh sáng mà còn biểu cảm sự chết chóc, oan khuất.

Văng vẳng: Gợi âm thanh tiếng kêu than, tiếng oan ức vọng lại từ xa, từ cõi âm, kéo dài, da diết, thể hiện nỗi đau dai dẳng, ám ảnh, làm tăng sự thương cảm, rợn người.

Sự kết hợp của hai từ láy tạo nên không gian u ám, chết chóc, đầy oán hận, khắc sâu nỗi đau và sự bất lực của những người đã khuất, lay động lòng người.

Câu 4. Chủ đề và cảm hứng chủ đạo:

Chủ đề: Nỗi xót xa, cảm thương sâu sắc đối với những số phận con người nhỏ bé, bất hạnh, bị vùi dập trong xã hội phong kiến; sự lên án những bất công xã hội.

Cảm hứng chủ đạo: Lòng nhân đạo bao la, tấm lòng trắc ẩn, tình thương người sâu sắc, thể hiện qua việc đồng cảm, sẻ chia với những nỗi khổ của "thập loại chúng sinh".

Câu 5. Suy nghĩ về truyền thống nhân đạo:

Từ cảm hứng nhân đạo trong đoạn trích, có thể thấy truyền thống nhân đạo dân tộc là sự đồng cảm, sẻ chia sâu sắc với nỗi đau của người khác, luôn hướng đến những số phận yếu thế, bất hạnh, đòi hỏi sự công bằng và tôn trọng phẩm giá con người. Truyền thống này thể hiện qua lòng trắc ẩn trước những kiếp người lầm than, kêu gọi sự thức tỉnh, bừng tỉnh khỏi vòng mê đắm để sống nhân ái, tử tế, xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, nơi con người được sống, được yêu thương và không bị vùi dập bởi số phận hay bất công.

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.  Văn bản "Tôi kéo xe" của Tam Lang thuộc thể loại phóng sự Câu 2. Văn bản ghi chép về sự việc gì?  Văn bản ghi chép về cuộc sống vất vả, tủi nhục của những người phu kéo xe trong xã hội cũ. Tác giả đã trực tiếp trải nghiệm công việc này để có cái nhìn chân thực về nỗi khổ cực của họ.  Câu 3. Xác định và phân tích tác dụng của những biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: "Ruột thì như vặn từ dưới rốn đưa lên, cổ thì nông như cái ống gang, đưa hơi lửa ra không kịp.". 
  • Biện pháp tu từ: So sánh. 
  • Tác dụng:
    • Diễn tả một cách cụ thể, trực quan nỗi đau đớn, kiệt sức tột cùng của người phu kéo xe khi phải làm việc quá sức. 
    • Hình ảnh "ruột như vặn" và "cổ nóng như cái ống gang" nhấn mạnh sự vắt kiệt sức lực từ bên trong cơ thể, cho thấy sự cực nhọc không chỉ về thể xác mà còn về tinh thần. 
Câu 4. Chi tiết nào trong văn bản gây ấn tượng nhất với anh/chị? Vì sao?  Đây là một câu hỏi mở, câu trả lời sẽ phụ thuộc vào cảm nhận cá nhân của mỗi người. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo một số chi tiết ấn tượng sau: 
  • Chi tiết: "Ruột thì như vặn từ dưới rốn đưa lên, cổ thì nóng như cái ống gang, đưa hơi lửa ra không kịp." 
  • Lý do: Chi tiết này sử dụng biện pháp so sánh mạnh mẽ, giúp người đọc hình dung rõ nét và cảm nhận sâu sắc nỗi đau đớn tột cùng mà người phu xe phải chịu đựng. Nó lột tả sự tàn phá về thể chất do công việc nặng nhọc gây ra, khiến người đọc đồng cảm và xót xa cho số phận của họ.

Nỗ lực là chìa khóa để mở ra cánh cửa của thành công. Có thể hiểu, nỗ lực chính là luôn cố gắng hết mình để làm bất cứ việc gì. Trong cuộc sống, có rất nhiều người có sự nỗ lực phi thường và đạt được thành tựu như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Ngọc Ký,... Những vĩ nhân ấy đã phải trải qua cả một quá trình cố gắng hết mình, bắt đầu từ những điều nhỏ nhất. Khi bạn chăm chỉ học tập thì sẽ tích lũy được kiến thức. Từ đó, đạt được những ước mơ, nâng tầm giá trị của bản thân. Bởi lẽ, "kì tích là tên gọi khác của sự nỗ lực không ngừng". Đúng vậy, mọi khó khăn sẽ chỉ là thách thức nếu ta không ngừng cố gắng vươn lên. Vậy nên, nếu muốn cuộc sống tốt đẹp hơn, chúng ta phải nỗ lực để thực hiện. Mỗi cá nhân cần tự lập cho mình một kế hoạch riêng vì cuộc đời của mỗi người là khác nhau. Và để có thể nhìn thấy được kết quả của sự nỗ lực thì cần cả một thời gian dài. Vì vốn dĩ thành công không bao giờ là dễ dàng. Nếu ta cố gắng hết sức thì kết quả đạt được sẽ vô cùng xứng đáng. Thế nhưng, trong cuộc sống, có một số người không bao giờ biết cố gắng. Họ đặt ra cho bản thân rất nhiều mục tiêu nhưng lại trì hoãn, dành thời gian cho những việc vô bổ. Những người như vậy sẽ khó có thể chạm tay được đến ước mơ. Vậy nên, mỗi chúng ta hãy nỗ lực học tập để góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển đi lên.

Sách về nghị lực