Trần Việt Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.l: Văn bản “Tôi kéo xe” thuộc thể loại ký Văn bản ghi lại trải nghiệm chân thực của tác giả khi nhập vai người phu kéo xe để phản ánh hiện thực đời sống cực khổ của họ trong xã hội đương thời.
Câu 2. Văn bản ghi chép về trải nghiệm của tác giả – nhân vật “tôi” – khi trực tiếp kéo xe chở khách trong vai một người phu xe ở Hà Nội. Qua đó, ông cảm nhận sâu sắc nỗi cực nhọc, cơ cực và thân phận khổ sở của những người lao động nghèo.
Câu 3. tác dụng của những biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Ruột thì như vặn từ dưới rốn đưa lên, cổ thì nóng như cái ống gang, đưa hơi lửa ra không kịp.” Biện pháp tu từ được sử dụng: so sánh và phóng đại. Phân tích tác dụng: Hình ảnh “ruột như vặn từ dưới rốn đưa lên”, “cổ nóng như cái ống gang” diễn tả trực quan, sinh động cảm giác đau đớn, nóng rát, mệt lả của người kéo xe. Giúp người đọc thấu hiểu sự khổ cực tột cùng, sự kiệt sức về thể xác của nhân vật “tôi” và qua đó, cảm thương sâu sắc cho thân phận những người phu xe.
Câu 4. Chi tiết gây ấn tượng nhất với tôi là câu: “Miệng thở, mũi thở, rồi đến cả tai cũng thở, mồ hôi thì toát ra như mồ hôi trõ.” Bởi vì câu văn này vừa chân thực, vừa gợi hình mạnh mẽ, cho thấy sức lao động đến kiệt cùng của người kéo xe, khiến người đọc cảm nhận rõ rệt nỗi thống khổ về thể xác và sự rẻ rúng của con người trong xã hội cũ. Từ đó, gợi lên lòng cảm thương và ý thức trân trọng những người lao động nghèo khổ.
Câu 5. Qua văn bản, tác giả Tam Lang thể hiện: Lòng cảm thông sâu sắc, sự trân trọng đối với những người lao động nghèo khổ – đặc biệt là phu kéo xe. Thái độ phê phán xã hội bất công, nơi con người bị đẩy vào cảnh lao động kiệt sức, sống lay lắt, chết yểu vì nghèo đói. Đồng thời, ông bộc lộ ý thức nhân đạo và tinh thần hiện thực của người cầm bút: viết để phản ánh, để lay động lòng người và kêu gọi sự thay đổi xã hội
Câu 1. thể loại của Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn. Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản chính là tự sự, kết hợp với miêu tả và biểu cảm. Câu 3. tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chợ chiều cả rồi, cũng dư dãi mà lấy nhau tự nhiên. Câu văn sử dụng phép ẩn dụ (“cảnh xế muộn chợ chiều”) để so sánh cuộc đời và tình duyên của hai vợ chồng với buổi chợ chiều – lúc tàn, vắng, không còn sôi nổi. Tác dụng: Thể hiện sự muộn màng, hẩm hiu trong tình duyên của đôi vợ chồng nghèo khổ, tàn tật. Gợi cảm giác xót xa, thương cảm cho những con người nhỏ bé, lam lũ trong xã hội cũ. Đồng thời bộc lộ giọng văn chua xót mà chân thành, đặc trưng phong cách Tô Hoài. Câu 4. Nội dung của văn bản này là : Văn bản kể về cuộc sống khổ cực, túng quẫn của gia đình vợ chồng anh Duyện – chị Duyện, những con người nghèo khổ, tàn tật, sống lay lắt qua ngày. Sự nghèo đói, thiếu thốn đã khiến họ cãi vã, bạo lực, rồi dẫn đến cái chết thương tâm của đứa con gái đầu lòng – cái Gái. → Qua đó, tác giả phản ánh hiện thực bi đát của người nông dân nghèo trong xã hội cũ và bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với họ. Câu 5. Em ấn tượng nhất với chi tiết cái Gái chết vẫn ôm khư khư cái giỏ nhái trong tay. Chi tiết này gợi lên nỗi xót xa tột cùng: đứa trẻ ngây thơ, đói khổ đến mức phải liều mình bắt nhái để góp bữa ăn cho gia đình, và chết trong cảnh đáng thương ấy. Nó cũng là biểu tượng của số phận con người nghèo khổ, dù chăm chỉ, hiền lành nhưng vẫn không thoát khỏi bi kịch do đói nghèo gây ra. Chi tiết này khiến người đọc day dứt và thương cảm, đồng thời thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo của tác phẩm.