Bùi Thị Phương Anh
Giới thiệu về bản thân
Blended learning is a way of studying a subject, which combines learning over the Internet and face-to-face learning, and brings several benefits to us. First, blended learning helps us have more control over our own learning. Learning materials are available at all times online. Students who are absent from school won’t miss lessons. Second, we can develop better communication and teamwork skills with blended learning. There are a lot of interesting learning activities giving us more flexibility to customize own learning experiences. This enables us to have more time for pairwork and group work. In short, it is undeniable that blended learning has crucial advantages including students’ control over their learning and soft skills development.
Câu 1
Bài làm
Mùa thu Hà Nội được tường thuật trong đoạn thơ "Thu Hà Nội" đem lại một vẻ đẹp tươi mới và đầy cảm xúc , một không gian mở rộng của mùa thu được tái hiện qua cách miêu tả tinh tế của tác giả. Mùa thu Hà Nội được mô tả như một bức tranh thơ mộng, với những nét đặc trưng của mùa này; cơn gió nhẹ nhàng, kết hợp với những đám mây trôi lững lờ, tạo nên một không khí se se lạnh, mang đến cảm giác thú vị cho người đọc; những chiếc lá vàng khô rơi lả tả, như một cảnh tượng bất ngờ, mang đến sự nghẹt thở và bồi hồi. Qua những hình ảnh này, ta có thể cảm nhận được sự bình yên và sự thay đổi của mùa thu. Bên cạnh đó, đoạn thơ còn đề cập đến những tình cảm lẻ loi và những suy nghĩ sâu xa trong trái tim người viết, chiều nhạt nắng làm hiện lên những kỷ niệm và nhớ nhung người xa xứ. Từ những câu hỏi đơn giản, tác giả thể hiện sự nhớ mong và hy vọng trong tình yêu, đây cũng là một cảm xúc tinh tế được thể hiện qua những từ ngữ đơn giản, nhưng đầy sức sống. Cuối cùng, đoạn thơ còn gợi lên hình ảnh một hàng cây sấu, với trái sấu quả sót vàng ươm; người viết nhặt được cả chùm nắng hạ, tạo nên một khung cảnh tươi sáng và rực rỡ, mùi hương trời đất dậy trên đường đưa ta vào một thế giới màu sắc và thơ mộng. Từ những câu thơ tinh tế trong "Thu Hà Nội", ta có thể thấy được vẻ đẹp độc đáo của mùa thu ở Hà Nội; đây là một mùa thu đặc biệt, với những cảm xúc và những hình ảnh độc đáo, tạo nên một không gian sống và cảm nhận riêng biệt cho người đọc.
Câu 2
Bài làm
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ 21, đã và đang tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong xã hội và cuộc sống của chúng ta; trong bài viết này, chúng ta sẽ xem xét những khía cạnh tích cực và thách thức của sự phát triển này đối với xã hội. Một trong những điểm mạnh của sự phát triển của trí tuệ nhân tạo là khả năng tăng cường năng suất và hiệu quả; AI có thể thực hiện các tác vụ lặp đi lặp lại một cách nhanh chóng và chính xác, giúp giảm thiểu lỗi phát sinh từ con người và tiết kiệm thời gian đáng kể. Trong lĩnh vực sản xuất, AI đã thúc đẩy tự động hóa, giúp giảm chi phí sản xuất và tạo ra sản phẩm với chất lượng cao hơn. Tuy nhiên, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra nhiều thách thức xã hội, Một trong những vấn đề nổi bật là tác động đến thị trường lao động, AI có khả năng thay thế nhiều công việc trí óc mà trước đây chỉ có con người có thể thực hiện, gây ra nguy cơ tăng tỷ lệ thất nghiệp. Điều này đòi hỏi xã hội phải tập trung vào việc đào tạo lại và phát triển kỹ năng mới cho nguồn nhân lực. Vấn đề khác đối diện xã hội là về quyền riêng tư và bảo mật thông tin. Sự phát triển của AI đã tạo ra khả năng thu thập và phân tích dữ liệu cá nhân một cách quy mô lớn. Điều này đặt ra câu hỏi về việc bảo vệ thông tin cá nhân và đảm bảo rằng dữ liệu không bị lạm dụng. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo cũng đặt ra thách thức về đạo đức và trách nhiệm, AI có thể được lập trình để thực hiện nhiều tác vụ khác nhau, và việc quyết định của họ có thể có tác động lớn đến cuộc sống của con người. Do đó, việc xác định nguyên tắc và quy tắc đạo đức trong việc phát triển và sử dụng AI trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Vậy nên, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đã và đang tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho xã hội. Để tận dụng tối đa lợi ích từ AI và đảm bảo rằng nó phục vụ cho lợi ích chung, chúng ta cần tập trung vào việc quản lý, đào tạo nguồn nhân lực, và đặt ra các nguyên tắc đạo đức mạnh mẽ để hướng dẫn sự phát triển của nó. Sự phát triển này không chỉ là một vấn đề công nghệ, mà còn là một vấn đề xã hội đòi hỏi sự tham gia chặt chẽ từ cả chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng.
Câu 1
- Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm.
Câu 2
- Từ ngữ, hình ảnh thể hiện khốn khó trong đoạn trích là đồng sau lụt, bờ đê sụt lở ( hình ảnh của thiên tài, gây mất mùa, đói kém); chịu đói suốt ngày tròn, có gì đâu mà nhóm lửa( cảnh chịu đói xuất người dân khi mất mùa).
Câu 3
- Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh
- Tác giả ko nói trực tiếp về sự ra đi của người mẹ kín yêu của mình mà đã nói giảm nói tránh đi qua hình ảnh " vuông đất mẹ nằm" để thể hiện sự kính trọng, đồng thời giảm bớt sợ đau thương đối với người mẹ đã mất.
Câu 4
Bài làm
Hình ảnh thơ trong câu thơ "Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn" là một hình ảnh thơ đặc sắc. Đầu tiên, em cảm nhận được sự vất vả, lam lũ, cần cù, chịu thương chịu khó của người mẹ trong văn bản nói chung và những người phụ nữ VN nói riêng. Hình ảnh của họ với đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, gánh vác bao lo toan nhọc nhằn mưu sinh cho gia đình. Và sự vất vả ấy kéo dài từ sáng sớm cho đến lúc hoàng hôn. Từ "xộc xệch" là từ láy đặc sắc có hai tầng nghĩa. Tầng nghĩa thứ nhất là chỉ sự lam lũ, vất vả đến không kịp chỉnh sửa áo quần của người mẹ, hai là gợi sự xúc động tột cùng của tác giả khi nghĩ về mẹ, nghĩ về những tháng ngày vất vả đó đến nỗi mà bức tranh trong tâm trí rung lên, tưởng như xộc xệch.
Câu 5
Bài làm
Thông điệp mà em thấy tâm đắc nhất đó chính là tình cảm, sự kính trọng của tác giả đối với người mẹ của mình. Mẹ của tác giả giờ đã ra đi nhưng người mẹ vẫn luôn sống mãi trong tâm trí của người con. Trong cuộc sống, cha mẹ nào cũng rất yêu thương con cái mình và luôn cố gắng dành cho mình những điều tuyệt vời nhất, những điều tốt nhất trong khả năng của mình.
Câu 1
Bài làm
Sáng tạo là yếu tố quyết định trực tiếp tới thành công của con người thời nay. Vậy sáng tạo là gì? Tại sao con người lại cần nó đến vậy? Sáng tạo chính là khả năng tạo ra những điều mới, hiệu quả và tiên tiến hơn những gì đã có. Người mang trong mình khả năng sáng tạo luôn không ngừng nỗ lực, tìm tòi để cải tiến phương thức lao động hay tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, giàu giá trị. Như chúng ta đã biết, cuộc sống hiện đại luôn biến đổi không ngừng, đòi hỏi con người phải thích ứng, thay đổi. Nếu cứ mãi neo mình theo lối mòn đã cũ, chẳng những đánh mất cơ hội của bản thân mà ta còn kéo lùi sự phát triển của văn minh nhân loại. Thử hỏi, không có sáng tạo, liệu những con người như Edison, Picasso, Mark Zukerberg… có ghi được tên tuổi mình vào lịch sử nhân loại; chúng ta có có được những kiệt tác nghệ thuật để chiêm ngưỡng, những đồ vật, ứng dụng tiện ích để sử dụng hay không? Vậy nhưng, hiện nay vẫn còn đâu đó trong xã hội có những kẻ thụ động, lười suy nghĩ, thích hưởng thụ, họ đang dần trở thành gánh nặng cho xã hội. Chính vì vậy, giới trẻ ngày nay cần nghiêm túc học tập và làm việc, đánh thức khả năng sáng tạo bằng những suy nghĩ, hành động cụ thể. Có như vậy, chúng ta mới có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa, phát triển khả năng của chính mình cũng như đóng góp tích cực cho quê hương, đất nước.
Câu 2
Bài làm
Chiến tranh nổ ra! Bao gia đình phải chia ly, bấy nhiêu bóng dáng hào kiệt đã ngã xuống, máu hòa với nỗi hận chôn sâu dưới làn mưa bom đạn. Vậy mà, mặc cho chiến tranh có tàn phá nặng nề đến mức nào, thì hình ảnh Phi và ông Sáu Đèo trong tác phẩm “Biển người mênh mông” của Nguyễn Ngọc Tư vẫn đậm sâu, đẹp đẽ một cách lạ thường. Đặc biệt, 2 nhân vật này là đại diện cho con người Nam Bộ đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc khó tả, để rồi người ta thêm vững lòng tin vào một thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt.
Chuyện kể về ông Sáu Đèo được về quê sau chín năm xa cách dài đằng đẵng. Ông là một người chiến sĩ nông dân vùng Nam Bộ. Với lòng yêu nước mãnh liệt cùng sự căm ghét quân giặc sâu sắc, ông đã tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày ông đi, ông đã cố gắng gạt đi sự quyến luyến, tình yêu thương gia đình. Để lại sau lưng là ánh mắt non nớt cùng người vợ tảo tần để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc. Quyết hy sinh đến tận hơi thở cuối cùng để bảo vệ từng mảnh đất, ngọn cỏ của dân tộc. Có thể nói, ông chính là hình ảnh đại diện cho lòng yêu nước của người nông dân Nam Bộ chân chất, mộc mạc.
Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại, chiu chít quanh quẩn bên chân bà như gà mẹ gà con. Thấy Phi suốt ngày thui thủi một mình, ngoại biểu đi hàng xóm chơi, Phi lắc đầu, "Đi đâu ai người ta cũng bảo giống ông Hiểu nào, trưởng đồn Vàm Mấm nào á. Con với ổng nước lã, người dưng mà, ngoại?" Ngoại không nói gì, lặng lẽ ngồi đương thúng, dường như trong mình có chỗ nào đó đau lắm, nhói lắm.
Khi Phi lên mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện. Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuổi, ông chết lặng. Đây là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng Rạch Vàm Nấm với mẹ của Phi. Ngoại Phi bảo, "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má". Má cũng hay về thăm Phi, thường là về một mình. Tất bật, vội vã, không làm gì cũng vội vã. Lần nào cũng hối hả kéo Phi vào lòng hỏi còn tiền xài không, lúc rày học hành thế nào, có tiếp ngoại vót nan không, sao mà ốm nhom vậy? Rồi từ từ má chỉ hỏi anh chuyện tiền xài thôi.
Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp. Ông thay đổi nhiều, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, đắng caỵ, dứt khoát không nhìn con như vậy. Ông hay chê Phi với má, "Cái thằng, lừ đừ lừ đừ không biết giống ai" . Hết lớp mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. Má anh rầy, "Bộ má nuôi không nổi sao?" Phi cười, "Má còn cho mấy đứa em, phải lo cho tụi nó học cao hơn nữa. Tự mình con sống cũng được, má à. Rồi Phi thôi học đi theo đoàn hát, má anh giận tím ruột bầm gan, "Ai đời ba mầy làm tới chức phó chủ tịch, không lẽ không lo cho mầy một chỗ làm tử tế, sao lại vác cây đờn đi hò hát lông bông. Làm vậy khác nào làm ổng mất mặt". Chỉ ngoại Phi là không rầy, ngoại anh hỏi, "Bộ làm nghề đó vui lắm hả con? Thoải mái chớ gì? Phải rồi, hồi xưa má con đẻ rớt con trên bờ mẫu, mở mắt ra đã thấy mênh mông trời đất rồi, bây giờ bị bó buộc con đâu có chịu". Phi chỉ cười cười mà không nói. Nhờ vậy, mà người ở xóm lao động nghèo nầy biết thằng Phi "nghệ sỹ" vẫn còn ở đây, trong căn nhà cửa trước lúc nào cũng khép im ỉm. Ở trong cái tổ bê bối của mình, Phi ngủ vùi đến trưa hôm sau. Ngoại biểu anh cưới vợ hoài, nhưng Phi nghĩ mãi, có ai chịu đựng được anh chồng lang thang say xỉn như mình, hồi còn là một hòn máu thoi thót anh đã làm khổ bao nhiêu người rồi, bây giờ lấy vợ không phải lại làm khổ thêm một người nữa sao?
Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất, đôi bông tai bằng cẩm thạch ngoại để dành cho cháu dâu vẫn còn nằm im trong hộc tủ thờ. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi, nghèo hoài. Ngó cảnh nhà, Phi tự hỏi, mình sống bê bối từ hồi nào vậy cà. Từ hồi nào thì phong trần, bụi bặm, khắc khổ, ăn bận lôi thôi, quần Jean bạc lổ chổ, lai rách te tua, áo phông dài quá mông, râu ria rậm rạp, móng tay dài, tóc dài. Từ hồi nào muốn soi kiếng phải lấy tay vẹt mớ râu tóc ra như người ta vẹt bụi ô rô. Không biết, có ai la rầy, có ai để ý đâu mà biết. Má anh lâu lâu lại hỏi anh đủ tiền xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó. Cuộc đời của ông Sáu Đèo sau khi người vợ bỏ đi, không con cái, chỉ làm bạn với con chim bìm bịp, lang thang bán vé số nay đây mai đó ở tuổi xế chiều, cô đơn. Nỗi nhớ và tiếng kêu thắt lòng của con chim bìm bịp nhắc về ông Sáu Đèo đang tiếp tục lưu lạc trên chặng đường nào. Nỗi cô đơn của Phi giữa biển người mênh mông.
Trời trở chướng, ông Sáu than đau nhức mình. Phi qua nhà cạo gió cho ông. Lần theo những chiếc xương gồ ra trên thân mình nhỏ thó, ốm teo, Phi buột miệng "Bác Sáu ốm quá". Ông già Sáu cười. Ông biểu, "Sống một mình thì buồn lắm, chú em nên nuôi con gì đó, con... vợ thì tốt nhất, nếu chưa tính chuyện đó được thì nuôi chó, mèo, chim chóc. Đừng nuôi sáo, nuôi sáo kết cục rồi cũng chia ly hà, nó hay sổ lồng, chết yểu. Kiếm thứ dân dã mà nuôi, để nhớ quê, nhớ gốc rễ mình, để đi đâu cũng muốn về nhà. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi, "Vậy bác Sáu gái đâu rồi ?" Ông già rên khẽ, gương mặt ràn rụa nước mắt, Phi giật mình, hỏi quýnh quáng. Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim, ông đã tìm người vợ gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ tìm kiếm để nói lời xin lỗi với vợ; cử chỉ “lấy tay quệt nước mắt” và câu hỏi day dứt trong ông: “Cái con bìm bịp quỷ nầy nó cũng bỏ qua mấy lần nhưng ngủ một đêm trên đọt dừa nó lại quay về. Sao cổ không quay lại?”,ông bảo đã ở đây một năm hai tháng mười chín ngày rồi, ngõ nào cũng đi hẻm nào cũng tới mà người thương đâu chưa thấy, những hoài niệm về niềm hạnh phúc với người vợ, “cuộc sống nghèo vậy mà vui lám”, buồn “tìm hoài không gặp” đi liền với nỗi lo “sợ mắt mình dở rồi nên nhìn không ra cổ”, “tới chết không biết có gặp được không”. “Từ đấy, ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại”. Ông vẫn đang mải miết đi hết những đường ngang ngõ dọc để tìm người thương, hay ông chân đã mỏi, gối đã chồn, đã dừng lại ở đâu đó trên hành trình cuộc đời mà vẫn chưa thôi khắc khoải. Trên hành trình tìm kiếm khát khao hạnh phúc đó, con người Nam Bộ trong truyện Biển người mênh mông cho chúng ta thấy tình yêu và sự gắn bó sâu quê hương xứ sở, tình cảm thuỷ chung sâu sắc, tấm lòng yêu thương, vị tha.
Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa nhân vật con người Nam Bộ trong trang văn với tình huống truyện tâm trạng, cốt truyện đơn giản, điểm nhìn di chuyển vào các nhân vật; ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ, giàu chất thơ cùng với giọng điệu buồn thương, ngậm ngùi để lại trong lòng người đọc nhìu cảm xúc khó tả. Người đọc cảm nhận về những mảnh đời bé nhỏ, bất hạnh, trôi nổi, lưu lạc, những khát khao kiếm tìm hạnh phúc âm thầm mà mãnh liệt. Hành trình kiếm tìm tình thân, hạnh phúc ấy cũng là hành trình tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn, hành trình của trái tim. Truyện khiến cho mỗi người đọc không nguôi về “nỗi người” trong trang văn của tác giả.
Truyện khơi gợi sự đồng cảm của người đọc, cho độc giả cảm nhận được những giá trị quý giá của tình thân, tình người, của hạnh phúc. Truyện cũng cảnh báo về những hời hợt, thờ ơ của mỗi người có thể đang góp phần làm nên cái “Biển người mênh mông” trong cuộc sống. Qua đó, tác giả đã để lại những ấn tượng sâu sắc về là một người chiến sĩ giàu trách nhiệm, kỷ luật và nặng lòng với quê hương, đất nước. Và rồi, đến cả khi đã gấp lại trang sách cũ, người ta vẫn canh cánh mãi những nỗi niềm rất lạ, rất riêng.
Câu 1:
Kiểu văn bản: Văn bản thuyế minh miêu tả kết hợp nghị luận. Văn bản này cung cấp thông tin về đặc trưng văn hóa và đời sống của các chợ nổi ở miền Tây, đồng thời nêu bật giá trị của chợ nổi trong văn hóa người dân.
Câu 2
- một số hình ảnh, chỉ tiết cho thấy giáo thương, buôn bán thú vị trên trợ nổi
+ Người bán và người mua giao dịch trực tiếp trên ghe, thuyền.
+ Cây bẹo treo các sản phẩm được bán trên thuyền (như trái cây, rau củ, hàng hóa).
+Không khí nhộn nhịp, tấp nập ghe thuyền trên mặt nước.
+ Tiếng gọi mua bán rộn rã hay những âm thanh tự nhiên như tiếng mái chèo, tiếng nước.
Câu 3
Tác dụng: Làm tăng tính chính xác và chân thực của bài viết.Gợi lên hình ảnh cụ thể về các khu vực đặc trưng của miền Tây sông nước.Tạo cảm giác gần gũi, gắn liền với văn hóa và đời sống thực tế của người dân khu vực.
Câu 4
Tác dụng: Phương tiện phi ngôn ngữ như cách treo cây bẹo giúp người mua hiểu ngay hàng hóa mà không cần hỏi.Tiết kiệm thời gian giao dịch, phù hợp với không gian mở của chợ nổi.Tạo nên nét độc đáo riêng biệt trong văn hóa mua bán ở miền Tây, vừa tiện lợi vừa độc đáo.
Câu 5
Tôi thấy, chợ nổi không chỉ là nơi giao thương buôn bán, mà còn là nét văn hóa độc đáo của người dân miền Tây.Đây là nơi thể hiện sự sáng tạo trong đời sống, với cách thức bán hàng qua cây bẹo và giao tiếp phi ngôn ngữ.Góp phần gắn kết cộng đồng, tạo nên phong cách sống vui tươi và đậm tình làng quê.Đồng thời, chợ nổi cũng là điểm thu hút du khách, thúc đẩy du lịch và kinh tế khu vực.
Câu 1:
Kiểu văn bản: Văn bản thuyế minh miêu tả kết hợp nghị luận. Văn bản này cung cấp thông tin về đặc trưng văn hóa và đời sống của các chợ nổi ở miền Tây, đồng thời nêu bật giá trị của chợ nổi trong văn hóa người dân.
Câu 2
- một số hình ảnh, chỉ tiết cho thấy giáo thương, buôn bán thú vị trên trợ nổi
+ Người bán và người mua giao dịch trực tiếp trên ghe, thuyền.
+ Cây bẹo treo các sản phẩm được bán trên thuyền (như trái cây, rau củ, hàng hóa).
+Không khí nhộn nhịp, tấp nập ghe thuyền trên mặt nước.
+ Tiếng gọi mua bán rộn rã hay những âm thanh tự nhiên như tiếng mái chèo, tiếng nước.
Câu 3
Tác dụng: Làm tăng tính chính xác và chân thực của bài viết.Gợi lên hình ảnh cụ thể về các khu vực đặc trưng của miền Tây sông nước.Tạo cảm giác gần gũi, gắn liền với văn hóa và đời sống thực tế của người dân khu vực.
Câu 4
Tác dụng: Phương tiện phi ngôn ngữ như cách treo cây bẹo giúp người mua hiểu ngay hàng hóa mà không cần hỏi.Tiết kiệm thời gian giao dịch, phù hợp với không gian mở của chợ nổi.Tạo nên nét độc đáo riêng biệt trong văn hóa mua bán ở miền Tây, vừa tiện lợi vừa độc đáo.
Câu 5
Tôi thấy, chợ nổi không chỉ là nơi giao thương buôn bán, mà còn là nét văn hóa độc đáo của người dân miền Tây.Đây là nơi thể hiện sự sáng tạo trong đời sống, với cách thức bán hàng qua cây bẹo và giao tiếp phi ngôn ngữ.Góp phần gắn kết cộng đồng, tạo nên phong cách sống vui tươi và đậm tình làng quê.Đồng thời, chợ nổi cũng là điểm thu hút du khách, thúc đẩy du lịch và kinh tế khu vực.
Câu 1:
Kiểu văn bản: Văn bản thuyế minh miêu tả kết hợp nghị luận. Văn bản này cung cấp thông tin về đặc trưng văn hóa và đời sống của các chợ nổi ở miền Tây, đồng thời nêu bật giá trị của chợ nổi trong văn hóa người dân.
Câu 2
- một số hình ảnh, chỉ tiết cho thấy giáo thương, buôn bán thú vị trên trợ nổi
+ Người bán và người mua giao dịch trực tiếp trên ghe, thuyền.
+ Cây bẹo treo các sản phẩm được bán trên thuyền (như trái cây, rau củ, hàng hóa).
+Không khí nhộn nhịp, tấp nập ghe thuyền trên mặt nước.
+ Tiếng gọi mua bán rộn rã hay những âm thanh tự nhiên như tiếng mái chèo, tiếng nước.
Câu 3
Tác dụng: Làm tăng tính chính xác và chân thực của bài viết.Gợi lên hình ảnh cụ thể về các khu vực đặc trưng của miền Tây sông nước.Tạo cảm giác gần gũi, gắn liền với văn hóa và đời sống thực tế của người dân khu vực.
Câu 4
Tác dụng: Phương tiện phi ngôn ngữ như cách treo cây bẹo giúp người mua hiểu ngay hàng hóa mà không cần hỏi.Tiết kiệm thời gian giao dịch, phù hợp với không gian mở của chợ nổi.Tạo nên nét độc đáo riêng biệt trong văn hóa mua bán ở miền Tây, vừa tiện lợi vừa độc đáo.
Câu 5
Tôi thấy, chợ nổi không chỉ là nơi giao thương buôn bán, mà còn là nét văn hóa độc đáo của người dân miền Tây.Đây là nơi thể hiện sự sáng tạo trong đời sống, với cách thức bán hàng qua cây bẹo và giao tiếp phi ngôn ngữ.Góp phần gắn kết cộng đồng, tạo nên phong cách sống vui tươi và đậm tình làng quê.Đồng thời, chợ nổi cũng là điểm thu hút du khách, thúc đẩy du lịch và kinh tế khu vực.
Câu 1:
Kiểu văn bản: Văn bản thuyế minh miêu tả kết hợp nghị luận. Văn bản này cung cấp thông tin về đặc trưng văn hóa và đời sống của các chợ nổi ở miền Tây, đồng thời nêu bật giá trị của chợ nổi trong văn hóa người dân.
Câu 2
- một số hình ảnh, chỉ tiết cho thấy giáo thương, buôn bán thú vị trên trợ nổi
+ Người bán và người mua giao dịch trực tiếp trên ghe, thuyền.
+ Cây bẹo treo các sản phẩm được bán trên thuyền (như trái cây, rau củ, hàng hóa).
+Không khí nhộn nhịp, tấp nập ghe thuyền trên mặt nước.
+ Tiếng gọi mua bán rộn rã hay những âm thanh tự nhiên như tiếng mái chèo, tiếng nước.
Câu 3
Tác dụng: Làm tăng tính chính xác và chân thực của bài viết.Gợi lên hình ảnh cụ thể về các khu vực đặc trưng của miền Tây sông nước.Tạo cảm giác gần gũi, gắn liền với văn hóa và đời sống thực tế của người dân khu vực.
Câu 4
Tác dụng: Phương tiện phi ngôn ngữ như cách treo cây bẹo giúp người mua hiểu ngay hàng hóa mà không cần hỏi.Tiết kiệm thời gian giao dịch, phù hợp với không gian mở của chợ nổi.Tạo nên nét độc đáo riêng biệt trong văn hóa mua bán ở miền Tây, vừa tiện lợi vừa độc đáo.
Câu 5
Tôi thấy, chợ nổi không chỉ là nơi giao thương buôn bán, mà còn là nét văn hóa độc đáo của người dân miền Tây.Đây là nơi thể hiện sự sáng tạo trong đời sống, với cách thức bán hàng qua cây bẹo và giao tiếp phi ngôn ngữ.Góp phần gắn kết cộng đồng, tạo nên phong cách sống vui tươi và đậm tình làng quê.Đồng thời, chợ nổi cũng là điểm thu hút du khách, thúc đẩy du lịch và kinh tế khu vực.