Nguyễn Thị Hồng Lý
Giới thiệu về bản thân
Câu 1(bài làm )
Tiếng Việt - ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ của hơn 85% dân cư, từ khi ra đời tiếng Việt của chúng ta đã mang những bản sắc riêng, vẻ đẹp riêng và trong quá trình con người sử dụng đã làm giàu có thêm vốn tiếng Việt. Trước sự phát triển của xã hội và quá trình hội nhập ra thế giới, tiếng Việt cũng cần phải đổi mới hơn, đa dạng và phong phú hơn đáp ứng yêu cầu của thời đại, tuy nhiên việc quan trọng hàng đầu chính là dù trong hoàn cảnh nào của xã hội cũng phải gìn giữ được sự trong sáng vốn có của tiếng Việt.
Hiện nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, bên cạnh tiếp thu và Việt hóa được nhiều cái hay, cái đẹp của tiếng nói, chữ viết nước ngoài, thì sự trong sáng của tiếng Việt đang bị ảnh hưởng tiêu cực. Biểu hiện rõ ràng nhất là sự lai căng tiếng nói, chữ viết của nước ngoài ngày một tăng. Dường như ngày càng có nhiều người, nhất là lớp trẻ, khi nói và viết tiếng Việt thường chen tiếng nước ngoài. Biểu hiện dễ thấy nhất là việc sử dụng thường xuyên những từ như: show (biểu diễn), live-show (biểu diễn trực tiếp), nhạc classic (nhạc cổ điển), nhạc country (nhạc đồng quê), nhạc dance (nhạc nhảy), các fan (người hâm mộ)… thay cho chữ Việt vốn đã có sẵn, đủ nghĩa, dễ hiểu, trong sáng. Cách diễn đạt này đôi khi sẽ gây nên sự khó hiểu, làm mất đi tính mạch lạc của đoạn hội thoại. Đồng thời, do ngôn ngữ còn tác động đến quá trình hình thành nhân cách, sử dụng tràn lan các từ ngữ nước ngoài không tránh được việc tạo ra tâm lí sính ngoại, coi nhẹ văn hóa cũng như đồ dùng Việt Nam.
Sinh thời, Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường tự mình nêu gương sáng và thường nhắc nhở mọi người tránh bệnh nói chữ, sính dùng từ gốc Hán khi có thể diễn đạt bằng tiếng Việt. Thiết nghĩ, học theo những tấm gương ấy, Nhà nước nên có quy định chặt chẽ, xây dựng quy định chuẩn về việc dùng từ tiếng nước ngoài trong các văn bản, nhất là văn bản chính thức của Nhà nước. Các trường học cũng phải chú trọng, đẩy mạnh giáo dục học sinh giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tất cả chúng ta cần ý thức được vẻ đẹp, giá trị của tiếng mẹ đẻ, nâng niu, giữ gìn nó trong từng lời nói hàng ngày. Bởi, đúng như nhà văn hóa Phạm Quỳnh từng nói: “Tiếng ta còn, nước ta còn”. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng là một cách để ta thể hiện tinh thần dân tộc, tình yêu quê hương đất nước.
Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia của chúng ta, gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt là bảo vệ tiếng Việt, bảo vệ ngôn ngữ của quốc gia chính là bảo vệ tiếng nói của dân tộc, bảo vệ đất nước. Nếu không gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt đồng nghĩa với việc chúng ta dần đánh mất đi ngôn ngữ của chính mình, ngay cả tiếng nói của dân tộc cũng không gìn giữ được thì sẽ chẳng có gì đảm bảo chúng ta có thể bảo vệ đất nước trước những thế lực thù địch đang nhăm nhe.
Câu 2 (trả lời )
Bài thơ "Tiếng Việt của chúng mình trẻ lại trước mùa xuân" của PGS. TS. Phạm Văn Tình là một tác phẩm giàu cảm xúc, thể hiện niềm tự hào và tình yêu sâu sắc với tiếng Việt – ngôn ngữ thiêng liêng của dân tộc. Nội dung bài thơ là sự khắc họa sinh động hành trình lịch sử và giá trị văn hóa của tiếng Việt qua các thời kỳ, từ thuở dựng nước, chiến đấu bảo vệ tổ quốc đến ngày nay, khi tiếng Việt vẫn mãi tươi trẻ, sống động trong từng câu hát dân ca, lời chúc Tết, và những vần thơ.
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh hào hùng của lịch sử dân tộc với "gươm mở cõi", "mũi tên thần", "bài Hịch năm nào", gợi lên truyền thống kiên cường, bất khuất của ông cha. Tiếp đó, tác giả chuyển sang những hình ảnh gần gũi, thân thương như tiếng mẹ ru, lời bà hát, thể hiện sự gắn bó mật thiết của tiếng Việt với cuộc sống hàng ngày và tâm hồn con người Việt. Hình ảnh "bánh chưng xanh", "bóng chim Lạc" không chỉ là biểu tượng văn hóa mà còn là sự khẳng định tiếng Việt luôn được trẻ hóa, phát triển, hòa nhập với thời đại mới.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn từ giàu hình ảnh, giàu âm điệu, tạo nên sự mềm mại, uyển chuyển và sức sống mãnh liệt cho tiếng Việt. Các biện pháp tu từ như điệp ngữ ("Tiếng Việt"), ẩn dụ ("bóng chim Lạc bay ngang trời"), và sự kết hợp giữa các hình ảnh lịch sử và đời sống hiện đại tạo nên sự liên kết chặt chẽ, làm nổi bật chủ đề. Nhịp thơ nhẹ nhàng, linh hoạt như lời ru, lời hát, khiến người đọc cảm nhận được sự ấm áp, gần gũi và niềm tự hào về tiếng Việt.
Tóm lại, bài thơ không chỉ là lời ca ngợi tiếng Việt mà còn là lời nhắc nhở mỗi người hãy trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị của ngôn ngữ dân tộc. Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là linh hồn, là cội nguồn văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Câu 1.
Văn bản thuộc kiểu văn bản nghị luận (bình luận xã hội).
Câu 2.
Vấn đề được đề cập là:
→ Việc sử dụng tiếng nước ngoài (đặc biệt là tiếng Anh) trong đời sống ở Việt Nam và ý thức giữ gìn, đề cao tiếng Việt – thể hiện lòng tự trọng dân tộc khi hội nhập.
Câu 3.
Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đưa ra các lí lẽ và dẫn chứng:
- So sánh với Hàn Quốc:
- Quảng cáo có mặt khắp nơi nhưng không đặt ở công sở, danh lam thắng cảnh.
- Nếu có tiếng nước ngoài thì viết nhỏ, đặt dưới chữ Hàn Quốc.
- Báo chí trong nước hầu như không dùng tiếng nước ngoài, chỉ dùng hạn chế trong trường hợp cần thiết.
- Thực trạng ở Việt Nam:
- Nhiều bảng hiệu chữ nước ngoài lớn hơn chữ Việt.
- Một số báo chí tóm tắt bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, mang tính hình thức.
- Điều này gây thiệt thòi cho người đọc trong nước và tạo cảm giác “lai căng”.
→ Các dẫn chứng cụ thể, đối chiếu rõ ràng giữa hai quốc gia.
Câu 4.
- Thông tin khách quan:
→ Hàn Quốc có nhiều quảng cáo, và chữ nước ngoài nếu có thì thường viết nhỏ dưới chữ Hàn Quốc. - Ý kiến chủ quan:
→ Việc tóm tắt bài báo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam là để cho “oai”.
Câu 5.
Cách lập luận của tác giả:
- Chặt chẽ, rõ ràng, đi từ thực tế quan sát đến nhận xét.
- Sử dụng phép so sánh đối chiếu (Việt Nam – Hàn Quốc) rất hiệu quả.
- Dẫn chứng cụ thể, sinh động, tăng sức thuyết phục.
- Kết luận ngắn gọn nhưng gợi suy ngẫm sâu sắc về lòng tự trọng dân tộc.
→ Đây là cách lập luận logic, thuyết phục và giàu tính thời sự.
Câu 1. Dấu hiệu thể thơ:Thể thơ: Tự do (hoặc thơ 7-8 chữ/tự do).Dấu hiệu: Số chữ trong mỗi dòng không bằng nhau (câu 4, 5, 6, 7... chữ), số câu trong mỗi khổ không cố định, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc.Câu 2. Hình ảnh mùa thu (Khổ 1):Hình ảnh: "Lá khởi vàng" (lá bắt đầu chuyển màu vàng).Câu 3. Hiệu quả câu hỏi tu từ "Có phải em mùa thu Hà Nội" (Khổ 4):Tạo giọng điệu tha thiết, bâng khuâng, vừa như hỏi, vừa như khẳng định sự hòa quyện giữa người con gái và nét đặc trưng mùa thu Hà Nội.Thể hiện nỗi nhớ sâu sắc, tình yêu say đắm và sự trân trọng vẻ đẹp cổ kính, lãng mạn của thủ đô.Câu 4. Cảm xúc của nhân vật trữ tình:Nỗi nhớ thương, âm thầm lặng lẽ khi người yêu đi xa.Sự say đắm, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thơ mộng, lãng mạn của mùa thu Hà Nội (hương cốm, lá vàng, Hồ Tây).Niềm hy vọng, hoài niệm và sự níu giữ những kỷ niệm đẹp về Hà Nội.Câu 5. Trách nhiệm thế hệ trẻ:Thế hệ trẻ cần có ý thức tìm hiểu, trân trọng và gìn giữ các giá trị văn hóa, vẻ đẹp truyền thống của quê hương.Tích cực quảng bá hình ảnh đất nước thông qua mạng xã hội, các hoạt động văn hóa, du lịch trong thời đại hội nhập, để vẻ đẹp Việt Nam lan tỏa ra thế giới.
Câu 1. Dấu hiệu xác định thể thơ:Thể thơ: Tự do.Dấu hiệu: Số chữ trong mỗi dòng không bằng nhau, dòng dài dòng ngắn xen kẽ (ví dụ: dòng 1 có 6 chữ, dòng 2 có 6 chữ, dòng 3 có 8 chữ), không tuân theo quy tắc vần, niêm, luật cố định của thơ truyền thống, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc.Câu 2. Hình ảnh làng quê qua nỗi nhớ (khổ 2):Con đường nhỏ chạy mòn cùng kỷ niệm.Tiếng chó thức vọng về từ ngõ vắng.Bông hoa đèn khe khẽ nở trong mơ.Câu 3. Tác dụng của biện pháp lặp cấu trúc:Biện pháp: "Mặt trời/Mưa gió/Người lớn đến với chúng tôi".Tác dụng: Nhấn mạnh sự tác động toàn diện, mạnh mẽ của thiên nhiên và con người đến quá trình trưởng thành của nhân vật trữ tình. Tạo nhịp điệu dồn dập, thể hiện niềm hạnh phúc, sự gắn bó sâu sắc và trân trọng những trải nghiệm, kỷ niệm tuổi thơ tại làng quê.Câu 4. Nhận xét tình cảm:Nhân vật trữ tình thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, sâu nặng.Đó là nỗi nhớ khắc khoải khi xa nhà, là sự biết ơn cội nguồn nơi mình sinh ra và lớn lên, nơi có mẹ và những kỷ niệm êm đềm.Câu 5. Suy nghĩ về khát vọng:Câu thơ "Chiếc vành nón lăn tưởng chạm đến chân trời" gợi lên sự hồn nhiên, trong sáng và những khát vọng lớn lao, táo bạo của con người ngay từ khi còn nhỏ.Nó thể hiện niềm tin, ước mơ bay cao, bay xa, khao khát khám phá thế giới rộng lớn vượt ra ngoài không gian quen thuộc, cho thấy khát vọng là động lực thúc đẩy con người vươn tới những đỉnh cao mới trong cuộc sống.
Câu 1: Thể thơ tự do.Câu 2: Nhân vật trữ tình là người mẹ.Câu 3: Biện pháp tu từ: Nhân hóa ("cỏ thơm thảo", "cỏ hát") và Ẩn dụ ("cỏ" - đứa con).Tác dụng: Làm cho hình ảnh "cỏ" trở nên sinh động, có hồn như con người. Qua đó, thể hiện sự trưởng thành, thảo hiền của con và tình yêu thương, sự nâng đỡ âm thầm, vô bờ bến của người mẹ dành cho con.Câu 4:Hình ảnh: "Mẹ là cánh đồng", "chứa chan ngày nắng", "hứng muôn ánh sao rơi", "sương lấp lánh", "mạch ngầm trong đất", "dòng nước mát ngọt ngào".Nhận xét: Các hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa dịu dàng, gần gũi, gợi lên sự che chở, hy sinh thầm lặng và tình yêu vô bờ bến của mẹ, luôn sẵn sàng nuôi dưỡng và làm đẹp cho cuộc đời con.Câu 5: Là người con, cần: Biết ơn, kính trọng mẹ; chăm ngoan, học giỏi để mẹ vui lòng; quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ mẹ việc nhà
Câu 1
Người ra đi tìm đường cứu nước đầu tiên đó là bác hồ
Câu 2
Kể lại một hiện tượng hoặc một sự việc đã xảy ra
Câu 2
Đoạn thơ thể hiện tình yêu sâu nặng và niềm tự hào về Tổ quốc Việt Nam nhìn từ biển; khẳng định chủ quyền thiêng liêng ở Hoàng Sa, Trường Sa; đồng thời bày tỏ nỗi lo âu, trăn trở trước những thử thách, hiểm họa nơi biển đảo quê hương.
Câu3
-- Nhân hóa: “Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn” – khiến hình ảnh biển trở nên gần gũi, gợi cảm giác vất vả, hy sinh của biển như người mẹ tần tảo.
- Ẩn dụ: “Máu thịt ở Hoàng Sa” – ví vùng biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, khẳng định sự gắn bó, không thể tách rời.
- Tác dụng: Những biện pháp này làm cho hình ảnh Tổ quốc và biển đảo trở nên sinh động, gợi cảm xúc sâu sắc, khơi dậy tình yêu, niềm tự hào và ý thức bảo vệ chủ quyền.
câu4
Câu thơ “Các con nằm thao thức phía Trường Sơn” gợi hình ảnh những người con đất Việt (đặc biệt là bộ đội, nhân dân) luôn canh giữ, bảo vệ Tổ quốc. “Thao thức” thể hiện tinh thần cảnh giác, lo âu, trăn trở vì sự bình yên của đất nước, dù ở Trường Sơn hay nơi nào, họ vẫn hướng về biển đảo.
Câu5
Từ đoạn thơ, em nhận thấy bản thân cần:
- Yêu quý, tự hào về biển đảo quê hương.
- Tìm hiểu, nâng cao hiểu biết về chủ quyền biển đảo.
- Tham gia tuyên truyền, ủng hộ các hoạt động bảo vệ môi trường và chủ quyền biển đảo.
- Rèn luyện bản thân, sẵn sàng đóng góp sức mình khi Tổ quốc cần.
Câu1
Phương thức biểu đạt chính :là biểu cảm
Câu3
Bài thơ là lời thủ thỉ tâm tình của mẹ và con, trong lời tâm tình ấy người con tỉ tê với mẹ về những cảnh đẹp, những danh thắng quê hương. Và những tình yêu quê hương ấy chính là những tình cảm mẹ bồi dưỡng cho tâm hồn con qua những lời ru, tiếng hát. Con cùng mẹ thủ thỉ về những cảnh sắc , những kỉ niệm ấu thơ. Những tâm sự nhẹ nhàng, những lời ru ấm áp đã tạo nên một trái tim đầy tình yêu, sự trân trọng quê hương.
Câu4
nhàng, đằm thắm trở nên thiết tha,da diết. Đó chính là sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình khi nhắc về quê hương. Tình cảm mới đầu là những hồi ức, những kỉ niệm đầy dịu dàng. Nhưng càng nhớ, càng hoài niệm thì lại càng sâu đậm, càng khao khát được trở về.
Câu5
Quê hương là hai tiếng gọi thân thương đã khắc sâu vào trái tim vào tim mỗi con người. Con người có quê hương như cây có cội như nước có nguồn. Quê hương là cái nôi nuôi dưỡng thể xác và tâm hồn mỗi người. Quê hương là những đồng lúa xanh rì, là bờ sông tắm mát, là những kỉ niệm cùng bè bạn thuở nhỏ. Quê hương cho ta dòng sữa mẹ nuôi dưỡng trái tim và tâm hồn, dạy ta biết yêu, biết trân trọng những kỉ niệm, hồi ức và biết ơn những gì đã được nhận. Quê hương cũng là bến đỗ tâm hồn, là vòng tay vỗ về khi ta mệt mỏi, yếu đuối. Bất cứ người con nào khi xa quê trở về đều cảm thấy thanh thản, yên bình bởi cái không khí quen thuộc, bởi con người mộc mạc nơi xứ mình.
Câu1
-thể thơ:8chữ
-đặc điểm :mỗi câu thơ đều có 8tiếng
Câu2
Hình ảnh so sánh được sử dụng để so sánh “tuổi thơ con”là: so sánh “tuổi thơ con” với “một bài cả”
Câu4
Bài thơ mở đầu bằng lời cảm ơn những con đường ven biển và kết thúc cũng bằng lời cám ơn em. Bởi những con đường ven biển vừa là nhân chứng của tình yêu, vừa góp phần điểm tô cho tình yêu thêm ý nghĩa. Cám ơn em bởi dù có sóng gió bất chợt, thì cuối cùng, em vẫn dịu dàng bên anh, anh cảm nhận được tình em rộng lớn và sâu sắc như tình biển Có thể nói, đây là một sự nhất quán, đem lại cho người đọc những dư vị tuyệt vời về một tình yêu thủy chung, trọn vẹn.
Câu1
Thể thơ tình yêu
Câu2
Nhân vật chữ tình là người anh
Câu3
Phép so sánh”anh như núi ,em là sông”
+tăng tính sinh động ,gợi hình ,gợi cảm cho đoạn thơ
+khẳng định một tình yêu cao cả ,thuỷ chung ,bền chặt bất chấp vật cản ,bất chấp thời gian
Câu5
-tấm lòng trân quý ,biết ơn đối với cảnh vật ,thiên nhiên tuyệt đẹp ,người mình vẫn luôn yêu hết mực chờ đợi ,thuỷ chung ,son sắc
-tình yêu chất chứa sâu thẳm trong lòng tác giả tuy nhẹ nhàng nhưng không kém phần tinh tế và sâu sắc
trar lởi câu 2
Từ câu chuyện về bà má Hậu Giang, thế hệ trẻ hôm nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Nếu như các thế hệ đi trước đã không tiếc máu xương để bảo vệ Tổ quốc, thì thế hệ trẻ ngày nay phải sống có lý tưởng, biết cống hiến bằng chính khả năng và hành động của mình.
Trách nhiệm ấy thể hiện trước hết ở việc học tập tốt, rèn luyện đạo đức, nâng cao hiểu biết để trở thành công dân có ích. Người trẻ cần chủ động tiếp thu tri thức mới, phát huy tinh thần sáng tạo, làm chủ công nghệ và khoa học để góp phần đưa đất nước phát triển. Đồng thời, mỗi người cũng cần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tránh xa lối sống lệch lạc, thiếu trách nhiệm với cộng đồng.
Hành động cụ thể có thể bắt đầu từ việc học tập nghiêm túc, tham gia hoạt động xã hội, tích cực bảo vệ môi trường, sống tử tế, nhân ái và có trách nhiệm. Chính những việc làm nhỏ mỗi ngày sẽ góp phần tạo nên sự thay đổi lớn, giúp đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Thế hệ trẻ cần tiếp bước cha ông bằng chính tinh thần nhiệt huyết, thế hệ trẻ hôm nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Nếu như các thế hệ đi trước đã không tiếc máu xương để bảo vệ Tổ quốc, thì thế hệ trẻ ngày nay phải sống có lý tưởng, biết cống hiến bằng chính khả năng và hành động của mình
Trả lời câu 1
Trong văn bản “Bà má Hậu Giang”, nhân vật bà má là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Nam Bộ giàu lòng yêu nước, dũng cảm và đầy tình thương. Dù là một người nông dân bình dị, bà đã sẵn sàng nuôi giấu cán bộ, che chở cho cách mạng giữa muôn vàn hiểm nguy. Bà không chỉ lo cơm nước mà còn là chỗ dựa tinh thần cho những người lính, như một người mẹ thực sự. Tình cảm của bà xuất phát từ trái tim chân thành, đầy bao dung và trách nhiệm với quê hương, đất nước. Qua hình ảnh bà má, người đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của lòng yêu nước, đức hy sinh âm thầm của những bà mẹ Việt Nam trong kháng chiến. Nhân vật bà má Hậu Giang đã để lại ấn tượng sâu đậm, thể hiện sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân và cách mạng, đồng thời truyền cảm hứng cho các thế hệ sau về lòng yêu nước và nghĩa tình đồng bào.